Hiển thị các bài đăng có nhãn - Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn - Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

“Đàn ông mua còn phụ nữ thì sắm”


Phụ nữ muốn tương tác với nhân viên bán hàng. Trong khi các anh cần câu trả lời nhanh gọn, thì các chị lại muốn từ tốn trò chuyện, bàn bạc.

Giới tính quyết định những ưu tiên khác nhau khi mua sắm. 

Khác biệt quan niệm của Vua và Hoàng hậu
Đối với hầu hết phụ nữ, mua sắm là dạo bộ dọc theo những con phố lớn có các cửa tiệm đẹp với nhiều bộ trang phục và phụ kiện bắt mắt. Họ thích đi thang máy bằng kính trong suốt, thích lướt qua chiếc piano khổng lồ trang trí trong cửa hàng, hoặc xịt thử nước hoa mùi mới, tô thử thỏi son màu lạ. Tóm lại là dạo chơi rồi mới tính đến chuyện mua sắm.
Nhưng đối với đàn ông thì mua sắm là sứ mệnh. Họ đến tiệm mua thứ đã dự định sẵn từ trước khi ra khỏi nhà. Và sau khi nhận hàng, họ “bay” khỏi tiệm càng nhanh càng tốt.
Theo khảo sát của Wharton's Jay H. Baker Retail Initiative và công ty tư vấn Verde Group của Toronto có nhan đề “Đàn ông mua, còn phụ nữ sắm”, thì phụ nữ thường phản ứng mạnh mẽ với những tương tác cá nhân liên quan đến hoạt động bán hàng. Trong khi đó, hầu hết quý ông chỉ chú ý đến những hỗ trợ thiết thực như: bãi đỗ xe của khu mua sắm có đủ rộng? Cái áo mình cần mua có còn hàng? Thời gian thanh toán có nhanh?
Theo Robert Price, Giám đốc Tiếp thị của CVS Caremark kiêm tư vấn gia của Baker, thì: “Phụ nữ hứng thú với kinh nghiệm mua sắm đa chiều”.
Một phụ nữ tuổi từ 18 đến 35 đã trả lời khảo sát: “Tôi yêu mua sắm và không thể ngừng việc dạo chơi, nhìn ngắm”. Còn với đàn ông ở cùng độ tuổi thì: “Tôi đến tiệm này vì cần mua cái này. Sau khi mua xong thì đi làm việc khác”.

Price giải thích: “Ngay cả trong thời buổi hiện đại, khi trách nhiệm xã hội của họ tăng, thì bản năng của phụ nữ vẫn là kiên trì quan tâm, chăm sóc. Vậy nên, họ luôn chú ý mua sắm một cách chi tiết. Mặt khác, sau nhiều thế hệ phó mặc phụ nữ mua sắm cho cả gia đình, thì hứng thú shopping của đàn ông bị hao mòn nhiều.

Theo giáo sư tiếp thị Wharton, Stephen J. Hoch, thì hành vi mua sắm phản ánh sự khác biệt giới tính: “Phụ nữ nghĩ mua sắm là vấn đề cá nhân, là thời trang của nhân loại. Còn đàn ông thì coi mua sắm là công cụ, là việc cần hoàn thành”.
Khác biệt nhu cầu của Vua và Hoàng hậu
Những dữ liệu khảo sát này rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp bán lẻ, để có để tiếp cận và chinh phục lòng trung thành của khách hàng theo giới.
“Đàn ông mua, còn phụ nữ sắm” chỉ ra rằng phụ nữ thường gặp rắc rối trong mua sắm nhiều hơn nam giới, 53% so với 48%.

Đối với phụ nữ, khó khăn hàng đầu khi mua sắm là “không được trợ giúp khi cần”. Đó cũng chính là lý do chính mà phần lớn cửa tiệm mất khách nữ. Nếu đội ngũ nhân viên của cửa tiệm hoặc các công cụ trên trang bán hàng trực tuyến không hỗ trợ đúng lúc, đúng cách, thì sẽ mất khách.
Trong khi đó, đàn ông thường chỉ bực mình khi “khó tìm chỗ đậu xe gần cửa ra vào của tiệm”. Bên cạnh đó, các chị em dễ xiêu lòng trước nhiều món, miễn sao nó hợp nhãn, nhưng các anh thì chỉ muốn thứ mình cần. Vậy nên, lý do phần lớn cửa tiệm mất khách nam là trữ không đủ hàng…
Hơn thế nữa, khách nam và nữ có những phản ứng khác nhau đối với hỗ trợ mua sắm. Nam giới cần được chỉ giúp món họ cần nằm ở đâu, và tính tiền nhanh gọn lẹ. Nhưng nữ giới thường muốn nhân viên bán hàng tư vấn cái nào là tốt, phù hợp nhất. Phụ nữ cũng thích nhân viên bán hàng tôn mình lên thành thượng đế.

Một phụ nữ tuổi từ 18 đến 35 sẽ hài lòng với người bán hàng “niềm nở giới thiệu thiết kế mới và khuynh hướng thời trang hiện hành”. Còn nam giới thường “không cần sự có mặt của người bán hàng, chỉ cần họ nhanh tay ở quầy thanh toán”.

Paula Courtney, Chủ tịch Verde Group, nhận định: thái độ đối với nhân viên bán hàng phản ánh sự khác biệt nhỏ nhưng quan trọng giữa khách nam và nữ.

Khi được hỏi là chuyện gì xảy ra sẽ khiến bạn chẳng bao giờ bước vào tiệm đó lần nữa, phụ nữ trả lời là: “Khi người bán hàng có thái độ khó chịu, cứ như thể mình đột ngột xông vào phá rối cuộc tán gẫu của họ và làm mất thời gian của họ”. Đàn ông thì “Khi người bán hàng làm biếng, không kiểm tra xem món mình cần còn hàng không, hoặc không chỉ giúp vị trí đặt món mình cần”.

Courtney chỉ ra rằng: “Phụ nữ rất chú ý đến thái độ bán hàng của nhân viên. Nam giới không phải là không để ý, nhưng điều đó không có tính chất quyết định bằng việc mua được món hàng mình cần một cách nhanh chóng”.

Bài học cho doanh nghiệp bán lẻ
Những người thực hiện khảo sát tin tưởng rằng nếu doanh nghiệp bán lẻ nắm bắt sự khác biệt tâm lý giữa khách nam và nữ, thì sẽ ứng xử phù hợp làm hài lòng cả hai, để tăng doanh số thành công.
Price gợi ý như sau. Một, điều đầu tiên mà bất cứ doanh nghiệp bán lẻ nào cũng phải bảo đảm là vận hành doanh nghiệp chỉnh chu. Nghĩa là phải có đủ hàng và thông tin quảng cáo cho khách, không kể giới tính nào. Tiếp theo đó, mới nghĩ đến chuyện chinh phục khách hàng nữ bằng thái độ giao tiếp khéo léo của nhân viên bán hàng.
Bên cạnh đó, phải chú ý đến khâu phân loại và sắp xếp hàng hóa. Nhiều nhà quản lý muốn giới thiệu thật nhiều hàng đến mọi vị khách, nhưng Price lại khảo sát thấy rằng: “Những phụ nữ hiện đại vốn rất bận rộn, nên muốn ai đó giúp mình khâu tuyển chọn sơ khảo”.

Và cuối cùng, để phục vụ tốt cả khách nam lẫn nữ, thì các công ty nên thuê nữ nhân viên vào khắp các vị trí, từ bán hàng đến tiếp thị, từ nhân viên đến quản lý.

Theo giải thích khoa học, phụ nữ vốn đi hái lượm còn đàn ông thì săn bắt. Vậy nên, khi mua sắm, phụ nữ rà soát khắp cửa tiệm, còn nam giới lại nhắm thẳng đến tủ hàng mình thích rồi mua đúng cái mình cần.

Phụ nữ và đàn ông đều bước vào tiệm để tìm mua thứ mình cần, nhưng chỉ có phụ nữ đảo mắt khắp nơi để tiện thể xem có gì mới, lạ, đẹp. Kết quả là phụ nữ thường mua nhiều hơn cái mình cần.
Phụ nữ muốn tương tác với nhân viên bán hàng. Trong khi các anh cần câu trả lời nhanh gọn, thì các chị lại muốn từ tốn trò chuyện, bàn bạc.
Khảo sát cũng cho thấy rằng nhân viên bán hàng đóng vai trò quan trọng chí tử cho thành công của doanh nghiệp. Bởi vì họ là những người đối thoại trực tiếp, tạo sự khác biệt so với những đối thủ cùng ngành, phân phối cùng sản phẩm (hoặc những sản phẩm tương tự nhau). Hơn thế nữa, nếu bãi đậu xe chật hay rộng quá thì khó thay đổi, nhưng tuyển chọn và huấn luyện nhân viên hợp ý là việc trong tầm tay

Ứng dụng Đạo Đức Kinh để soạn thảo hợp đồng


Theo thông lệ, để loại bớt những rủi ro từ việc không dự liệu hết các sự kiện trong hiện tại hay tương lai, các hợp đồng thường đưa vào những điều khoản tuyên bố và cam kết như những “cái túi” ràng buộc các bên đối với các sự kiện mà các bên không có đủ nguồn lực để kiểm tra.

Sẽ không có một hợp đồng hoàn hảo cho mọi giao dịch vì mỗi hợp đồng là một sản phẩm độc nhất cho một giao dịch duy nhất. Vậy đâu là cơ sở xác định hợp đồng nào là phù hợp cho một giao dịch? Trải qua mấy ngàn năm, giá trị về nhiều mặt của Đạo Đức Kinh đã được khẳng định, nhưng Đạo Đức Kinh và việc soạn thảo hợp đồng có liên quan gì với nhau? Câu trả lời là "có".
Từ Đạo Đức Kinh...
Đạo Đức Kinh là cuốn sách kinh cơ bản của đạo giáo, gồm hai phần: Đạo Kinh và Đức Kinh.
Là một tác phẩm triết học độc đáo, Đạo Đức Kinh không chỉ bàn về bản thể của triết học, mà còn đề cập những vấn đề nhân sinh, xã hội, chính trị... một cách sâu sắc. Đạo Đức Kinh đề cao sự thâm trầm, hư tĩnh.
Trong quan hệ với cái động - cái “hữu”, cái tĩnh - cái “vô” được coi là gốc và được đề cao hơn. Vô và hữu làm nền cho nhau, nương theo nhau để cho thấy sự kỳ diệu, khéo léo của Đạo.
Quan hệ giữa vô và hữu được hình tượng hóa đặc sắc qua ví dụ: “Ba mươi nan hoa cùng quy vào một cái bánh xe, nhưng chính nhờ khoảng trống trong cái bánh mà xe mới dùng được.
Nhồi đất sét để làm chén bát, nhưng chính nhờ cái khoảng trống ở trong mà chén bát mới dùng được. Cửa cái, cửa sổ trong nhà, chính nhờ có khoảng trống mới dùng được.
 Ta tưởng cái “hữu” (bánh xe, chén bát, nhà) có lợi cho ta, nhưng thực ra cái “vô” mới làm cho cái “hữu” có ích”.
Một ví dụ tưởng chừng như vô lý, ngược đời mà lại vô cùng thâm thúy, sâu sắc, khiến người đọc giật mình rồi gật đầu tán thưởng.
Đến hợp đồng - những dự liệu của “có” và “không”
Hợp đồng là sự thống nhất ý chí của các bên liên quan, vạch ra mong muốn mà các bên mưu cầu. Hợp đồng nêu lên những dự liệu (sự vật, sự kiện, thời điểm, số liệu, mong muốn...) xác định hoặc có thể xác định được - tức là cái "có".
Dự liệu càng chính xác và chi tiết thì hợp đồng càng rõ ràng, chặt chẽ. Ví dụ, căn nhà trong hợp đồng mua bán nhà phải là một căn nhà cụ thể, với diện tích, vị trí cụ thể, thuộc quyền sở hữu của bên bán xác định.
Nhưng chỉ dựa vào những dự liệu xác định thì chưa đủ để có một hợp đồng hoàn hảo. Vì hợp đồng là dự liệu của hôm nay để thực hiện vào ngày mai, mà không ai biết chắc ngày mai sẽ như thế nào và có đúng như dự liệu hôm nay không.
Trong khi đó, tất cả những dự liệu trong hợp đồng đều liên quan mật thiết với nhau và làm thành một mạng lưới mà thiếu bất cứ dự liệu nào, mạng lưới ấy sẽ bị đứt rời và trở nên vô nghĩa. Chính lúc này, vai trò của cái "không" những dự liệu khi cái "có" không xảy ra - được thể hiện rõ nét.
Chuyện gì sẽ xảy ra khi người bán nhà không phải là chủ nhà thực sự, mà chỉ là người đứng tên giùm? Nếu yếu tố tiền đề này (bên bán phải là chủ sở hữu tài sản) đã sai, thì tất cả những dự liệu khác, như: giá bán, thanh toán, việc công chứng hợp đồng... cũng sẽ sai và không thể thực hiện được.
Lúc này cần một cam kết từ bên bán khẳng định bên bán không phải là người đứng tên giùm cũng như chấp nhận bồi thường nếu bên bán vi phạm cam kết này.
Có lẽ đến đây chúng ta đã phần nào hiểu được giá trị của những cái "không" trong hợp đồng. Việc liệt kê những cái "có" mới chỉ giải quyết được một vế, tức là làm cho hợp đồng rõ ràng, còn vế còn lại là làm cho hợp đồng đầy đủ thì cần những cái Vô.
Tranh chấp thường không phát sinh từ những gì đã ghi trong hợp đồng, mà chủ yếu từ những điều khoản Không được dự liệu khi ký kết.
Hợp đồng mua bán ngoại thương mà không xác định luật áp dụng thì chắc chắn hai bên sẽ cãi nhau không ngừng, bởi một vấn đề sẽ được nhìn nhận khác nhau trong luật pháp các nước khác nhau và từ đó, quyền lợi của các bên cũng rất khác nhau.
Cách hợp lý nhất khi soạn thảo hợp đồng là liệt kê đầy đủ những cái có, rồi dựa vào mỗi cái có đó mà đưa ra nhiều dự liệu khi cái có đó không xảy ra. Hợp đồng sẽ hoàn hảo khi là kết quả của sự kết hợp hài hòa giữa những cái có và không như thế.
Thông thường, khi soạn hợp đồng người ta thường dựa vào kinh nghiệm của người soạn thảo. Kinh nghiệm là quan trọng nhưng nếu dựa vào kinh nghiệm quá nhiều, bạn sẽ không thể nào vượt qua tư duy hiện tại của mình.
Thế nên, tạm thời xếp kinh nghiệm sang một bên (vì đôi khi kinh nghiệm là sự lặp đi lặp lại sai lầm nhưng không nhận ra) để đầu óc được trống rỗng khi soạn hợp đồng. Bạn hoàn toàn có thể vạch ra vô số dự liệu, dù những dự liệu ấy ít xảy ra nhất, hoặc buồn cười nhất.
Một điểm khác cần lưu ý là không nên dựa hoàn toàn vào hợp đồng mẫu vì hợp đồng mẫu có thể đúng với các giao dịch trước kia nhưng không còn phù hợp với những giao dịch hiện tại. Và cũng chỉ nên sử dụng hợp đồng mẫu trong trường hợp thực sự cần thiết.
Hợp đồng tiên liệu chuyện tương lai, vì vậy, phải luôn để những dung sai hợp lý cho các bên khi thực hiện hợp đồng cũng như dự phòng những bất ngờ (điều khoản bất khả kháng), hoặc những khó khăn trong tương lai (điều khoản hoàn cảnh khó khăn).
Theo thông lệ, để loại bớt những rủi ro từ việc không dự liệu hết các sự kiện trong hiện tại hay tương lai, các hợp đồng thường đưa vào những điều khoản tuyên bố và cam kết như những “cái túi” ràng buộc các bên đối với các sự kiện mà các bên không có đủ nguồn lực để kiểm tra.
Một hợp đồng hoàn hảo không phải là dài hay ngắn, đơn giản hay phức tạp, mà là hợp đồng mà sau khi ký kết, các bên thực hiện và hoàn thành nó một cách tự nhiên như không hề có hợp đồng. Khi đó, hợp đồng đã tự nó chuyển tải được toàn bộ mong muốn của các bên khi ký kết - đó là tiêu chí cao nhất của hợp đồng hoàn hảo. 

Tặng quà cho khách hàng nhân dịp cuối năm

Ngoài ra, nếu xem vị khách quý của mình như một vị “đại sứ”, tức là người ấy sẽ giúp bạn quảng bá thương hiệu của mình đến nhiều người khác, bạn có thể nghĩ đến việc dòng chữ “đại sứ” được khắc ngay bên dưới hoặc phía sau logo công ty.


Khi mùa lễ hội cuối năm đã cận kề, vấn đề tặng quà cho khách hàng đang được giới doanh nghiệp chú trọng. Hàng loạt câu hỏi được đưa ra: Nếu không thể tặng quà cho tất cả các khách hàng thì những ai sẽ được nhận quà? Mỗi món quà trị giá bao nhiêu? Quà tặng như thế nào sẽ là phù hợp?... Món quà không chỉ bày tỏ sự trân trọng của bạn với các đối tác, mà còn nhằm mục đích quảng bá thương hiệu doanh nghiệp mình.
Phân chia sự hào phóng
Nếu nguồn ngân sách của bạn có giới hạn, bạn phải chọn lựa thật cẩn thận những vị khách hàng nên được tặng quà. Cần lên danh sách bằng cách đánh số thứ tự các vị khách hàng dựa trên nguồn doanh thu mà họ mang đến cho bạn.
Tiếp đó, hãy loại khỏi danh sách những vị khách mang ít doanh thu nhất đến cho doanh nghiệp trong suốt năm qua rồi phân nhóm khách hàng theo từng cụm với số lượng tương đồng. Làm như thế, bạn sẽ biết rõ mình nên chi tiêu bao nhiêu cho các nhóm khách hàng tương ứng.
Ngoài ra, việc chi bao nhiêu cũng lệ thuộc rất nhiều vào món quà mà bạn dự định sẽ tặng và giới hạn chi tiêu cho hoạt động tiếp thị. Bạn có thể chia ngân sách một cách đồng đều giữa các nhóm khách hàng được nhận quà, cũng có thể quyết định chi nhiều hơn cho những vị khách đặc biệt và chi đồng đều cho phần còn lại.
Khách hàng của bạn có được phép nhận quà?
Đây là phần đáng chú ý nếu doanh nghiệp của bạn kinh doanh với doanh nghiệp khác. Một số doanh nghiệp không cho phép nhân viên của mình nhận quà từ bất kỳ những nhà bán hàng hoặc nhà phân phối nào, trong khi số khác lại cho phép nhận quà, nhưng trong một giới hạn giá trị nhất định.
Biết được đặc tính của doanh nghiệp đối tác sẽ giúp bạn tránh việc mua những món quà đắt giá mà khách hàng không thể nhận được.
Tùy thuộc vào mức độ thân quen giữa bạn với khách hàng, món quà tặng nếu ít nhiều liên quan đến sở thích cá nhân sẽ tạo nên được thiện cảm.
Tuy nhiên, tặng thức uống có cồn hoặc thuốc lá đôi lúc cần tránh. Nếu bạn tặng quà cho nhiều khách hàng cùng làm chung văn phòng với nhau, việc tặng một món quà để mọi người có thể chia sẻ với nhau là một ý tưởng hay, chẳng hạn một túi quà lớn với nhiều hộp thực phẩm đa dạng.
Tặng những món quà tinh thần và có tính trải nghiệm cho các khách hàng làm việc tại văn phòng là một ý kiến thú vị và tạo tính khác lạ. Bạn có thể thiết đãi toàn bộ nhân viên của phía đối tác một buổi xem phim tại rạp chiếu bóng, một buổi thưởng thức hòa nhạc hay một số hình thức giải trí khác phù hợp nhân dịp cuối năm.
Tặng quà có chất lượng
Việc tặng quà nhân mùa lễ hội cuối năm thực sự có thêm ý nghĩa và giúp quảng bá tốt cho thương hiệu một khi bạn gửi tặng khách hàng những món quà có chất lượng cao.
Chẳng hạn, một cây bút đẹp, bền mang logo của doanh nghiệp bạn sẽ được khách hàng sử dụng thường xuyên hơn, lâu hơn và có cơ hội khoe với đồng nghiệp của họ hơn một cây bút có chất lượng xoàng xĩnh. Tương tự, món quà bằng da luôn được ưa chuộng hơn món quà bằng nhựa.
Nếu bạn thật sự muốn quảng bá doanh nghiệp mình thông qua quà tặng, hãy chọn lựa những món mà người nhận sử dụng thường xuyên và thường được những người xung quanh nhìn thấy.
Ngoài ra, nếu xem vị khách quý của mình như một vị “đại sứ”, tức là người ấy sẽ giúp bạn quảng bá thương hiệu của mình đến nhiều người khác, bạn có thể nghĩ đến việc dòng chữ “đại sứ” được khắc ngay bên dưới hoặc phía sau logo công ty.
Cách làm tinh tế ấy sẽ khiến những người khác khi nhìn  thấy sẽ hỏi ngay về vai trò “đại sứ” và hỏi cả về doanh nghiệp của bạn.

Mở chợ Online trực tuyến

Theo các chuyên gia thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin, để cân bằng giữa lợi nhuận và đầu tư lâu dài, DN phải tập trung vào thị trường đã được xác định rõ ràng. Cụ thể, DN phải tìm thị trường thích hợp, tìm hiểu khách hàng, phát triển sản phẩm, cung cấp sản phẩm và tự động hóa kinh doanh.


Với hơn 27 triệu người (chiếm hơn 31% dân số) sử dụng internet, thương mại điện tử đã trở thành kênh kinh doanh hữu dụng đối với doanh nghiệp (DN) Việt Nam. Biết vậy nên hầu hết các DN đều đầu tư vào lĩnh vực này, thế nhưng, không phải giám đốc điều hành (CEO) nào cũng hiểu và biết cách đầu tư...
Một vốn, bốn tiện lợi
Nghiên cứu của Tổ chức Dữ liệu Quốc tế (IDC) cho thấy, thương mại điện tử (TMĐT) đang tăng trưởng với tốc độ 25%/năm. Và dự tính đến năm 2012 sẽ có hơn 1 tỷ người mua hàng hóa và dịch vụ trực tuyến trên toàn thế giới giao dịch qua sàn giao dịch điện tử (B2C) với giá trị lên tới 1,2 nghìn tỷ USD.
Còn tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Công Thương, năm 2006 có 8% DN tham gia sàn TMĐT, năm 2007 tăng lên 10% và năm 2009 là 12%. Năm 2001 có 31% DN có website và năm 2009 đã tăng lên 38%.
Mua bán hàng hóa và dịch vụ qua internet đã dần trở nên quen thuộc với một bộ phận người tiêu dùng tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, Nha Trang, Đà Nẵng...
Phát biểu tại tọa đàm “Nâng cao năng lực bán hàng bằng ứng dụng TMĐT” được tổ chức vừa qua tại TP.HCM, ông Võ Đỗ Thắng, Trưởng ban Công nghệ thông tin - Câu lạc bộ Doanh Nhân Sài Gòn, nhấn mạnh, TMĐT là công cụ mang lại hiệu quả kinh doanh rất cao trong điều kiện hiện nay.
Nếu một nhân viên kinh doanh mỗi ngày chỉ có thể tiếp cận 10 khách hàng bằng cách thông thường, thì với TMĐT họ có thể tiếp cận đến 2.000 khách hàng. Chỉ cần 1% trong số giao dịch ấy có kết quả là DN đã thành công.
Phương pháp này xem ra càng thuận lợi hơn khi website đã được xây dựng trên nền 2.0. Nghĩa là giờ đây, với TMĐT, người bán và người mua có thể tương tác với nhau: khách hàng được tư vấn, hiểu rõ về sản phẩm, còn DN thì hiểu khách hàng cần gì...
Chủ các DN kinh doanh trong lĩnh vực này cho biết, đầu tư cho TMĐT không tốn kém nhiều như đầu tư bán hàng trực tiếp. DN chỉ cần có một nhân viên có kiến thức về công nghệ thông tin đủ để thu thập, xử lý các thông tin qua mạng là được. Mức độ, quy mô và mô hình ứng dụng TMĐT phụ thuộc vào mục tiêu, tính chất và quy mô hoạt động của từng DN.
Đối với các công ty kinh doanh truyền thống thì chỉ cần một website với các tính năng đơn giản nhằm giới thiệu công ty, hàng hóa và dịch vụ của công ty chào bán là đủ. Còn đối với các công ty mong muốn triển khai hệ thống bán hàng B2C trên mạng với một quy trình đầy đủ (giới thiệu, chào hàng, nhận, thực hiện đơn hàng, thanh toán, dịch vụ hậu mãi) thì đòi hỏi hệ thống TMĐT phức tạp hơn.
Riêng đối với các công ty triển khai TMĐT B2B ở mức độ cao (có liên kết với bạn hàng, chia sẻ thông tin, phối hợp lên kế hoạch sản xuất, liên kết giữa các giao dịch ra bên ngoài với các hoạt động quản lý bên trong công ty, mạng hóa các giao dịch nội bộ công ty...) thì mức độ phức tạp của hệ thống TMĐT sẽ cao hơn.
Bề nổi một phong trào
TMĐT thuận lợi nhiều, nhưng lại ít tốn kém, nên hầu hết các DN đều đầu tư vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, không phải DN nào cũng nhìn nhận và đầu tư đúng cho TMĐT.
Phát biểu tại hội thảo “CEO với TMĐT” do Tập đoàn Alibaba phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức tuần qua, ThS. Lê Văn Lợi, Viện trưởng Viện Tin học Doanh nghiệp, cho rằng, sai lầm của các CEO khi đầu tư vào TMĐT là muốn bao quát tất cả. Họ thường chọn thị trường quá rộng nên không đủ khả năng tiếp thị và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Hơn nữa, nhiều CEO không hiểu đầu tư vào một ngành kinh doanh mới đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định mới mang lại hiệu quả, họ chỉ muốn mau chóng thu lợi nhuận.
Cũng theo ông Lợi, hiện nay, TMĐT hầu như chỉ mới tác động đến DN ở mảng tiếp thị và quan hệ khách hàng, chứ chưa thực sự ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. DN tham gia lĩnh vực này gặp rất nhiều trở ngại, trong đó có an ninh mạng, hệ thống thanh toán, môi trường pháp lý và tập quán kinh doanh.
Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về TMĐT vẫn còn thấp, nguồn nhân lực dành cho lĩnh vực này còn yếu, dịch vụ vận chuyển và giao nhận cũng chưa tương xứng với nhu cầu phát triển. Các chuyên gia khuyến cáo, người làm TMĐT phải nắm rõ luật kinh doanh qua mạng.
Đại diện Công ty Iwave cho biết, đã “trầy trật nhiều” vì lúc đầu không hiểu rõ về luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin: “Chúng tôi làm trang web về hoa nên hễ cứ thấy bài viết về loại hoa nào hay là đăng lên, đọc trên vnexprees.net thấy có bài viết về hoa tôi cũng lấy đưa lên. Hóa ra làm như vậy là phạm luật vì vi phạm bản quyền”.
Theo các chuyên gia thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin, để cân bằng giữa lợi nhuận và đầu tư lâu dài, DN phải tập trung vào thị trường đã được xác định rõ ràng. Cụ thể, DN phải tìm thị trường thích hợp, tìm hiểu khách hàng, phát triển sản phẩm, cung cấp sản phẩm và tự động hóa kinh doanh.
Nhưng điều đặc biệt quan trọng là làm sao cho sản phẩm của DN có sức cạnh tranh trên thị trường. Ông Lợi đưa ra lời khuyên: “Thế giới internet rất hay nhưng cũng chứa nhiều cạm bẫy. Tham gia lĩnh vực này DN phải chuẩn bị chu đáo nguồn lực thì việc đầu tư mới hiệu quả”. 

Ngành truyền thông quảng cáo

Ông Nguyễn Trung Thẳng, Chủ tịch Tập đoàn Truyền thông Masso Group khẳng định: “Quảng cáo trên truyền hình vẫn có những ưu điểm vốn có như từ trước tới giờ, như đến được với nhiều người trong thời gian rất ngắn, rất nhanh, có thể chuyển tải được âm thanh, hình ảnh, câu chuyện mà những kênh khác không thể thực hiện được”.


Trong thời đại công nghệ số, ngành quảng cáo phát triển rất mạnh mẽ với nhiều kênh hơn, nhiều sáng tạo hơn và nhiều sự lựa chọn hơn. Bên cạnh các kênh quảng cáo hiện đại, quảng cáo truyền thống trên tivi, báo chí vẫn tiếp tục tăng trưởng.
Háo hức hiện đại
Quảng cáo 3D - một hình thức thể hiện mới tại Việt Nam
Khảo sát của Neilsen trên toàn cầu vừa công bố cho thấy, dù mới phổ biến gần đây nhưng quảng cáo trên các kênh hiện đại như website, điện thoại di động... tăng trưởng mạnh.
Chẳng hạn, với nước giải khát, dù mới phổ biến gần đây nhưng quảng cáo trên các website đã tăng trưởng 32%, trên phim ảnh trực tuyến tăng 20% và trên điện thoại di động tăng 9%.
Với ngành hàng mỹ phẩm và các sản phẩm liên quan đến sức khỏe thì quảng cáo trên báo chí tăng 61%, ngoài trời tăng 39%, đồng thời quảng cáo trên các trang web tăng vọt lên 45%, phim trực tuyến lên 34% và trên điện thoại di động tăng trưởng 14%.
Phát biểu tại hội thảo “Tương lai kỹ thuật số” diễn ra trong khuôn khổ Liên hoan quảng cáo Việt Nam 2010 (9 - 11/12), đại diện Neilsen Vietnam cho rằng, ngày nay, người tiêu dùng rất am hiểu điện thoại di động. Không chỉ sử dụng với hai chức năng: thoại và nhắn tin như trước, người ta vào điện thoại để chơi game, truy cập internet, chat, nghe radio...
Người tiêu dùng hiện nay rất quan tâm đến công nghệ. Những người đã sử dụng các thiết bị công nghệ tiếp tục chọn những sản phẩm có công nghệ cao hơn trong khi những người chưa sở hữu những công nghệ hiện đại này thì cho biết sẽ chú ý đến tivi công nghệ HD, tivi 3D, điện thoại smartphone...
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2009, trong những người quan tâm đến công nghệ, độ tuổi trên 30 chiếm 45% và dưới 30 tuổi chiếm đến 55%. Trong đó, người dưới 30 tuổi thì số lượng người quan tâm đến công nghệ từ 13 - 30 tuổi là 35%, độ tuổi dưới 13 chiếm đến 20%.
Quyến luyến truyền thống
Các kênh quảng cáo truyền thống như tivi, báo chí vẫn tăng trưởng tốt và song hành với các kênh hiện đại. Nếu như quảng cáo trực tuyến, quảng cáo trên điện thoại di động, các website phát triển mạnh thì quảng cáo trên tivi vẫn tăng trưởng đến 75%, trên báo chí tăng 45%, ngoài trời tăng 49%.
Nếu như quảng cáo trực tuyến, quảng cáo trên điện thoại di động, các website phát triển mạnh thì quảng cáo trên tivi vẫn tăng trưởng đến 75%, trên báo chí tăng 45%, ngoài trời tăng 49%.
Các chuyên gia cho rằng, hiện nay tivi vẫn chiếm vị trí rất vững chắc và luôn nổi trội. “Nói gì thì nói, truyền hình vẫn không thể bị thay thế bởi các phương tiện truyền thông mới”, bà Trần Thị Thanh Mai, Tổng giám đốc Công ty TNS khẳng định.
Theo phân tích của bà Mai, truyền hình là một kênh truyền thống, nhưng với công nghệ mới như hiện nay, mức độ tích hợp ngày càng cao hơn.
Người ta có thể sử dụng màn hình tivi như màn hình máy vi tính để vào internet... và các chương trình tivi cũng có thể xem được trên điện thoại di động. Hơn nữa, mọi người vẫn thích nghe âm thanh, thích xem hình ảnh thì không gì có thể thay thế được. Và một khi kênh truyền thống phát triển thì đương nhiên, quảng cáo trên kênh này cũng sẽ tăng theo.
Số liệu thống kê của của Neilsen Vietnam cũng cho thấy, quảng cáo trên truyền hình chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm 50%, báo chí 20%, ngoài trời chiếm 10% và một số hình thức khác.
Mỗi năm kinh phí dành cho các kênh này chiếm khoảng 1 tỷ USD. Và chỉ riêng truyền hình không thôi thì mỗi năm đã có đến hơn 3.000 phim quảng cáo được phát sóng.
Ông Nguyễn Trung Thẳng, Chủ tịch Tập đoàn Truyền thông Masso Group khẳng định: “Quảng cáo trên truyền hình vẫn có những ưu điểm vốn có như từ trước tới giờ, như đến được với nhiều người trong thời gian rất ngắn, rất nhanh, có thể chuyển tải được âm thanh, hình ảnh, câu chuyện mà những kênh khác không thể thực hiện được”.
Đồng quan điểm này, ba Mai cho rằng, với 99% dân số xem truyền hình nên quảng cáo trên truyền hình sẽ khó bị thay thế. Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ của ngành truyền thông số, các chuyên gia đều cho rằng, khó có thể nói quảng cáo trên kênh nào hiệu quả hơn kênh nào vì nó phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu của một thương hiệu, của một chiến dịch tiếp thị nếu như phân khúc của thương hiệu đó nhắm đến”.

Quốc tế hóa trang web

Dựa trên các thông số này chúng ta sẽ có sự điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Ví dụ, những khách hàng đến từ Ý vào website của chúng ta rất nhiều, nhưng tỷ lệ thoát ngay cũng rất cao.


Với chi phí thấp hơn nhiều so với ra nước ngoài tham gia các hội chợ hàng xuất nhập khẩu, hoặc thuê đối tác nước ngoài quảng bá sản phẩm, dịch vu, hay mở văn phòng đại diện tại các nước đó, internet đang mở ra một kênh tiếp cận khách hàng hiệu quả cho các doanh nghiệp  xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, để tối ưu được hiệu quả này, DN cần thực hiện các bước sau:
Quốc tế hóa trang web
Trang web giờ đây là bộ mặt của DN bạn, nó được xem như văn phòng đại diện của DN. Nếu khách hàng tiềm năng không thể hiểu được thông tin bạn cung cấp, hoặc không tìm thấy thông tin mà họ cần thì bạn sẽ mất cơ hội kinh doanh.
Theo một nghiên cứu, người dùng thường chỉ mất 3 giây để quyết định xem mình có dừng lại trên một trang web hay không. Bạn cần phải có một trang web thể hiện nội dung tốt với thông tin đầy đủ, rõ ràng và viết bằng nhiều ngôn ngữ.
Tiếng Anh được xem là phổ biến, nhưng bạn cũng nên sử dụng các ngôn ngữ địa phương của khách hàng tại khu vực mà bạn nhắm tới. Ví dụ, bạn đang hướng đến khách hàng ở Brazil thì phải dùng tiếng Bồ Đào Nha Brazil thay vì tiếng Bồ Đào Nha nói chung.
Bên cạnh đó, bạn cũng cần phải xem xét các vấn đề liên quan đến sự khác biệt trong ngôn ngữ, văn hóa như:
- Từ địa phương: một số quốc gia nói tiếng Anh dùng “cell phone” thay vì “mobile phone”.
- Đơn vị đo lường: một số quốc gia dùng đơn vị kilogram, còn một số khác dùng pound.
- Đơn vị tiền tệ: thể hiện giá bán sản phẩm/dịch vụ của bạn theo đơn vị tiền tệ tại thị trường mục tiêu.
Các dịch vụ mà bạn có thể cung cấp cũng là vấn đề khá nhiều khách hàng quan tâm. Ví dụ, làm sao để nhanh chóng nhận được những thắc mắc của khách hàng về sản phẩm/dịch vụ của bạn, và làm thế nào để họ nhận được câu trả lời ngay lập tức?
Cái bạn cần là một dịch vụ hỗ trợ khách hàng ngay trên website, hỗ trợ trực tuyến qua tán gẫu (chat), email, điện thoại, hoặc ít nhất cũng nêu rõ trên website thời gian làm việc và cách liên hệ với DN bạn.
Bên cạnh đó, bạn cần phải cung cấp phương thức thanh toán thuận tiện và được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới, như: PayPal, VisaCard, MasterCard.
Đây là một trong những nhân tố quyết định khách hàng có đặt mua sản phẩm của bạn hay không. Tuy nhiên, vẫn có vài trường hợp ngoại lệ, ví dụ như khách hàng của bạn đến từ các nước Đông Nam Á với tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng thẻ tín dụng khá thấp, vì vậy bạn phải sử dụng thêm một số hình thức thanh toán khác, như chuyển khoản ngân hàng chẳng hạn.
Quốc tế hóa website là một trong những bước quan trọng để bạn có thể thu hút khách hàng đến với sản phẩm/dịch vụ của mình.
Tìm kiếm nhu cầu
Sau khi có một website hoàn chỉnh với đầy đủ thông tin và dịch vụ cần thiết, xem như bạn đã xây dựng xong “gian hàng” của mình. Vấn đề kế tiếp bạn cần quan tâm là “chào hàng” đúng đối tượng có nhu cầu. Vậy, làm thế nào để những người có nhu cầu tìm được “gian hàng” của bạn trên internet?
Rất nhiều người nghĩ internet là một thế giới phức tạp và mỗi cá nhân trong thế giới đó sẽ có cách tìm kiếm thông tin khác nhau. Nhưng trên thực tế, 81% người dùng trên toàn thế giới truy cập internet qua một công cụ tìm kiếm nào đó. Chúng ta có thể ví các công cụ tìm kiếm như những cánh cửa mở vào thế giới thông tin internet.
Có một lưu ý là bất kỳ người dùng nào khi sử dụng công cụ tìm kiếm để tìm thông tin cũng đều cho thấy cái họ đang cần. Câu hỏi đặt ra là, làm thế nào thông qua công cụ tìm kiếm bạn có thể biết được những ai đang có nhu cầu về sản phẩm/dịch vụ của bạn? Một công cụ miễn phí của Google là Google Insights for Search (GIFS) có thể giúp bạn.
Công cụ này cung cấp thống kê toàn bộ lượng tìm kiếm trên Google đến từ các vùng, miền khác nhau, bằng các ngôn ngữ khác nhau. Đi sâu hơn nữa, GIFS không chỉ thể hiện nhu cầu tìm kiếm theo thời gian, theo từng nước, mà còn thể hiện nhu cầu của từng khu vực.
Qua đó, bạn có thể biết được lượng tìm kiếm liên quan đến một từ khóa, sản phẩm/dịch vụ, hay một thương hiệu, từ đó có thể khoanh vùng đối tượng có nhu cầu. Không chỉ đưa ra xu hướng, GIFS còn được xem là thước đo thương hiệu trên internet.
Một sản phẩm có lượng tìm kiếm lớn nghĩa là có nhiều người quan tâm đến thương hiệu của sản phẩm đó. Tóm lại, GIFS giúp bạn xác định được nhu cầu của người dùng và độ cạnh tranh về mặt sản phẩm/dịch vụ mà mình cung cấp ở mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, làm thế nào để có thể mở rộng ra các lĩnh vực, chủ đề liên quan đến sản phẩm/dịch vụ của DN bạn? Một công cụ khác, cũng miễn phí của Google là Keyword Tool sẽ đưa ra các gợi ý về các từ khóa liên quan. Qua đó, bạn có thể mở rộng nhu cầu, đối tượng khách hàng tiềm năng.
Tiếp cận các đối tượng đang có nhu cầu
Còn gì thuận tiện hơn khi người dùng đang có nhu cầu về sản phẩm/dịch vụ tương tự với sản phẩm/dịch vụ của bạn thấy ngay “gian hàng” của bạn trên trang đầu kết quả tìm kiếm? Bạn sẽ có một tỷ lệ chuyển đổi khách hàng lớn hơn nhiều so với khi dùng các phương pháp tiếp thị truyền thống.
Google là một trong những công cụ tìm kiếm được sử dụng nhiều nhất trên thế giới. Thực hiện quảng cáo trên công cụ tìm kiếm Google, DN xuất khẩu Việt Nam có thể quyết định cho mẫu quảng cáo xuất hiện chính xác tại từng quốc gia, hoặc từng vùng mục tiêu trên toàn thế giới.
Ngoài ra, Google còn có một mạng lưới hiển thị quảng cáo trên toàn cầu, tiếp cận được nhiều người dùng hơn bất kỳ mạng lưới nào khác. Mạng hiển thị này bao gồm các sản phẩm của Google như: Gmail, Group và YouTube; một số trang tin tức phổ biến của Mỹ như WSJ, hoặc các trang mạng xã hội Facebook, Myspace, Friendster và Linkedln cùng các website, blog, diễn đàn xoay quanh các chủ đề nhất định.
Về quy mô, mạng quảng cáo hiển thị của Google thu hút 4,3 tỷ lượt xem mỗi ngày và 705 triệu người truy cập mỗi tháng.
Đo lường và cải tiến để tối ưu hóa cho các lần sau
Một khi đã chạy quảng cáo trên Google, cần phải nắm các thông tin và dữ liệu để đưa ra quyết định tiếp theo nên làm điều gì và khi nào thì làm. Một công cụ phân tích web là rất cần thiết trong trường hợp này để giúp bạn có được những thông tin đáng tin cậy một cách nhanh chóng và chính xác nhất.
Công cụ này sẽ cho chúng ta biết khách hàng đến từ đâu, số lượng bao nhiêu, lưu lại trên trang web trong bao lâu (thời gian càng lâu có nghĩa họ quan tâm càng nhiều), sản phẩm nào được quan tâm nhất, bao nhiêu người mua hàng, bao nhiêu khách hàng thường xuyên, tỷ lệ thoát là bao nhiêu...
Dựa trên các thông số này chúng ta sẽ có sự điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Ví dụ, những khách hàng đến từ Ý vào website của chúng ta rất nhiều, nhưng tỷ lệ thoát ngay cũng rất cao.
Điều này được hiểu là nhiều người Ý cũng có nhu cầu mua sản phẩm của chúng ta, nhưng vì website chưa có tiếng Ý nên mới dẫn đến tỷ lệ thoát ngay cao hơn bình thường. Từ đó chúng ta có thể đưa ra giải pháp là làm phiên bản tiếng Ý cho website để nắm bắt được cơ hội từ thị trường này. 

Thông cáo báo chí trên trang mạng xã hội

Biểu hiện thành công số lượng là số người nhấn nút “Thích” sau khi đọc thông cáo trên Facebook và chia sẻ trên Twitter nhiều hơn. Về mặt chất lượng, các chuyên gia soi xét kỹ lời bình của người đọc thông tin và dẫn dắt đối thoại theo hướng mình muốn.


Giám đốc tiếp thị Jeff Robe của hãng sản xuất máy xay sinh tố Blendtec được giao nhiệm vụ gia tăng độ nhận biết thương hiệu của khách hàng nhưng lại bị giới hạn trong khoảng ngân sách tiếp thị và quảng cáo eo hẹp. Sau khi khảo sát và tính toán kỹ, anh quyết định quảng cáo trên mạng xã hội.
Seri video quảng cáo ghi hình nhà sáng lập Tom Dickson bỏ mọi vật có thể vào máy xay, từ iPhone đến kèn World Cup vuvuzela, để chứng minh sức mạnh của máy Total Blender dùng trong gia đình.
Hơn 100 tập phim và hàng triệu lượt xem trên YouTube đã đẩy doanh số máy xay sinh tố gia đình tăng 700% từ tháng 11/2006 - 8/2010 và thay đổi nhận thức thương hiệu Blendtec. Jeff Robe tổng hợp các yếu tố dẫn đến thành công của chiến dịch này như sau:
- Nắm rõ sự khác biệt giữa tiếp thị truyền thống và MXH hiện đại. Điểm mấu chốt là tương tác hai chiều, nên nội dung thông tin quyết định khả năng lan truyền của quảng cáo với câu hỏi: Thu hút blogger hay phóng viên? Nổi đình nổi đám một lần hay làm thành một dây chuyền chiến dịch rầm rộ?
Thông cáo báo chí trên MXH phải có sự sáng tạo riêng, để người đọc nhanh chóng và dễ dàng phát hiện trọng điểm thông tin rồi chia sẻ rộng khắp cho nhiều người khác. Quan trọng nhất là khéo léo sử dụng những từ khóa, để tối ưu hóa công cụ tìm kiếm trực tuyến và giúp thông tin được lan truyền nhanh chóng, hiệu quả hơn.
Thông cáo báo chí trên MXH cần đủ 10 phần.
Một - Tiêu đề: Ngắn gọn, khúc chiết, đi thẳng vào vấn đề.
Hai -  Tiêu đề phụ: Nếu có những thông tin quan trọng cần lập tức đập vào mắt người đọc thì đặt ở đây.
Ba - Khái quát: Một đoạn ngắn tóm tắt những ý chính của thông cáo. Đây là những dòng quyết định thu hút người đọc. Cần ngắn gọn dưới hai đoạn, trau chuốt từ ngữ và chọn lọc từ khóa.
Bốn - Phần thân: Giới thiệu những nội dung cơ bản nhằm trả lời các câu hỏi: ai, khi nào, cái gì, ở đâu, tại sao.
Năm -  Sự kiện: Cần có dữ liệu, số thống kê, phân tích, những gạch đầu dòng cung cấp thêm thông tin cho những gì bạn vừa công bố ở trên.
Sáu - Thông tin doanh nghiệp: Tóm tắt lịch sử kèm đường link dẫn đến website, trang Twitter và Facebook của công ty.
Bảy - Đường link truyền thông đa phương tiện dẫn đến hình ảnh, video trên YouTube.
Tám - Đường link có liên quan: Tự quảng bá doanh nghiệp và những thành tựu thông qua đường link đến bài báo, thông cáo trước đây.
Chín - Tags: Gợi ý những phương pháp chia sẻ thông cáo này, thông qua trang bookmark, Twitter hay Facebook.
Mười - Liên lạc: Đừng bao giờ quên tên, email, điện thoại. Thông tin cá nhân càng chi tiết thì càng được người đọc tín nhiệm.
Không kém phần quan trọng là đo lường hiệu quả của thông cáo báo chí bằng ba cách: số lượng, chất lượng và hệ số thu nhập trên đầu tư - ROI (“thu nhập từ đầu tư” trừ “phí đầu tư”, rồi chia cho “phí đầu tư”).
Biểu hiện thành công số lượng là số người nhấn nút “Thích” sau khi đọc thông cáo trên Facebook và chia sẻ trên Twitter nhiều hơn. Về mặt chất lượng, các chuyên gia soi xét kỹ lời bình của người đọc thông tin và dẫn dắt đối thoại theo hướng mình muốn.
Chiến dịch quảng bá qua MXH là đối thoại hai chiều, nên nhân viên tiếp thị và PR phải trả lời thắc mắc của người đọc ngay lập tức. 

Xu hướng bán lẻ

Chúng tôi tin rằng tương lai của bán lẻ sẽ thuộc về di động. Chúng tôi đang nối kết giữa truyền thông truyền thống với internet và di động. Chính vì vậy, năm 2009, sự xuất hiện của NTT Docomo trong Oak Lawn Marketing khởi đầu một thời kỳ phát triển mới của tập đoàn, trong đó phát huy được sức mạnh TV và di động.


Mua sắm hàng hóa qua tivi (TV) là một kênh bán hàng hiệu quả và rất phổ biến tại Nhật Bản.
Các bà nội trợ được chào mời tận nhà qua 3 - 4 kênh truyền hình với đủ thứ hàng hóa từ gia dụng đến xa xỉ, với cách thức đơn giản: xem TV, điện thoại tới tổng đài nghe tư vấn và đặt hàng, người tiêu dùng mua được sản phẩm ngay tại nhà.
Gian hàng của Oak Lawn Marketing tại Nhật Bản - Ảnh M.T
Chính vì những điều kiện thuận lợi này, hình thức TV shop tại Nhật rất phát triển, doanh thu hằng năm của chúng tôi khoảng 80 triệu USD. Tôi cho rằng, kênh bán hàng này cũng có cơ hội phát triển tại Việt Nam với nhiều yếu tố, từ công nghệ đến xu hướng tiêu dùng hiện đại.
Hiện nay, Oak Lawn Marketing, INC là một trong những công ty dẫn đầu trong lĩnh vực tiếp thị trực tiếp, bán lẻ và công nghiệp truyền hình mua sắm tại Nhật Bản. Thành công của Oak Lawn Marketing là sự kết hợp hình ảnh lối sống phương Tây với những giá trị của văn hóa Nhật Bản.
Đó cũng là giá trị cơ bản giúp Oak Lawn Marketing thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của ngành công nghiệp marketing toàn cầu, dựa trên những điểm cơ bản: Sáng tạo - khác biệt - liên tục cải tiến - tinh thần doanh nhân. Trong đó tinh thần doanh nhân chính là “đạo kinh doanh” của người Nhật Bản đã rất phổ biến trên thế giới.
Ba nhánh dịch vụ của chúng tôi hiện nay gồm: Shop Japan, Hill’s Collection và Exabody. Thách thức chính là tập trung cho cả ba nhãn hiệu này là đáp ứng được xu hướng của người tiêu dùng Nhật cũng như trên thế giới là “phong cách sống”.
Để đạt mục tiêu này, chúng tôi tập trung vào việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ “nâng cao chất lượng sống của khách hàng mỗi ngày” với các sản phẩm sức khỏe, thời trang, tiện ích... Tương tác với khách hàng qua đối thoại hằng ngày là chìa khóa thành công của chúng tôi.
Qua đó, chúng tôi nắm bắt chi tiết nhu cầu của từng khách hàng và liên tục có những cải tiến cho sản phẩm và dịch vụ thích hợp. Hai trung tâm dịch vụ khách hàng tại Nagoya và Sapporo đảm bảo đáp ứng thông suốt mọi yêu cầu và thắc mắc của khách hàng. Mặt khác, các trung tâm này cũng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi giao cho khách hàng.
Chúng tôi tin rằng tương lai của bán lẻ sẽ thuộc về di động. Chúng tôi đang nối kết giữa truyền thông truyền thống với internet và di động. Chính vì vậy, năm 2009, sự xuất hiện của NTT Docomo trong Oak Lawn Marketing khởi đầu một thời kỳ phát triển mới của tập đoàn, trong đó phát huy được sức mạnh TV và di động.
Tất nhiên, thị trường Việt Nam còn nhỏ so với Nhật Bản, nhưng chúng tôi nghĩ rằng Oak Lawn sẽ không bỏ qua thị trường Việt Nam nếu có cơ hội. Thị trường Việt Nam có những yếu tố cơ bản của hình thức bán hàng mà chúng tôi đang tập trung phát triển: kinh tế tăng trưởng, dân số trẻ, bùng nổ thông tin và nhu cầu mua sắm cao.

Công cụ tìm kiếm trực quan

Bạn đọc scan hình quảng cáo bằng điện thoại di động thông minh cài chương trình Google Googles sẽ được dẫn đến wapsite đầy ắp hình ảnh, video và lựa chọn mua xe... “Chúng tôi đặt Buick trong không gian tiếp thị hiện đại để khách hàng nhận diện hình ảnh doanh nghiệp tiên tiến”, Craig Bierley, Giám đốc tiếp thị và quảng cáo bán hàng của Buick trả lời tờ Times.


Công cụ tìm kiếm trực quan trên điện thoại di động Google Googles sẽ đưa doanh nghiệp và người tiêu dùng xích lại gần nhau hơn. Đó là mục tiêu của Google và cũng là sự kỳ vọng của những thương hiệu lớn như Buick, Disney, Diageo, T-Mobile và Delta Airlines.
Google giới thiệu sơ lược hoạt động của Google Googles trên blog như sau: Khi khách hàng dùng điện thoại di động chụp hình các quảng cáo bằng chương trình Google Googles (tương thích với iPhone và những điện thoại di động thông minh chạy hệ điều hành Android), thì họ sẽ được dẫn dắt kết nối đến wapsite của doanh nghiệp (phiên bản website nhỏ gọn dùng cho điện thoại di động).
Michael Slinger, trưởng bộ phận bán quảng cáo qua công cụ tìm kiếm trên điện thoại di động khu vực Bắc Mỹ của Google, cho biết: “Đối với chúng tôi thì đây là thí nghiệm để học hỏi hơn là cơ hội để kiếm tiền. Còn quyền quyết định sự thành bại của chương trình nằm trong tay người tiêu dùng”.
Thật vậy, cả Google và doanh nghiệp khách hàng đều đang chờ mong phản hồi tốt từ người tiêu dùng. Liệu họ có chấp nhận tìm kiếm và tin tưởng thông tin về thế giới xung quanh thông qua Google Googles? Tình hình có vẻ khả quan khi Google công bố ứng dụng Google Googles đã được download 250.000 lần.
Bên cạnh đó, công cụ tìm kiếm qua điện thoại di động tăng trưởng 500% từ năm 2008. Vậy nên, Google tiên đoán rằng điện thoại di động sẽ là thiết bị lướt web số 1 vào năm 2015.
Những khách hàng lớn đầu tiên có vẻ rất phấn khích trước công cụ quảng cáo mới. Ví dụ như hãng xe Buick, đã kích hoạt Google Googles quảng cáo xe Buick Regal trên báo Entertainment Weekly, People và Time magazines tháng 11/2010, và trên Esquire, Fast Company và Forbes tháng Mười hai.
Bạn đọc scan hình quảng cáo bằng điện thoại di động thông minh cài chương trình Google Googles sẽ được dẫn đến wapsite đầy ắp hình ảnh, video và lựa chọn mua xe... “Chúng tôi đặt Buick trong không gian tiếp thị hiện đại để khách hàng nhận diện hình ảnh doanh nghiệp tiên tiến”, Craig Bierley, Giám đốc tiếp thị và quảng cáo bán hàng của Buick trả lời tờ Times.
Disney thì có kế hoạch kích hoạt Google Googles 30.000 poster khi ra mắt phim “Tron: Legacy” tại 5.000 rạp chiếu phim khắp Hoa Kỳ. Chỉ cần scan poster thì người Mỹ sẽ link đến wabsite xem trailer phim và có thể mua vé qua Movietickets hoặc Fandango... Cùng lúc đó, Diageo kích hoạt Google Googles những nhãn rượu đặc biệt để dẫn người tiêu dùng đến wapsite xem hình sản phẩm và công thức pha chế cocktail.

Kim cương hoặc đất sét?

Ngược lại, văn hóa đoàn kết, chia sẻ cũng sẽ là thứ “còn lại”, ngay cả trong thời điểm doanh nghiệp gặp khó khăn nhất. Chỉ có điều, hai nét văn hóa khác nhau ấy sẽ cho ra những kết cục khác nhau: sự tan rã hoặc tồn tại, phát triển của một tập thể.


Chuyện “cơm không lành, canh không ngọt” giữa chủ doanh nghiệp và CEO làm thuê luôn là đề tài nóng tại các diễn đàn về thu hút nhân tài trong thời gian gần đây. Hầu hết nội dung bàn luận xoay quanh việc phân tích “lỗi, phải” của hai bên. Có người cho rằng do chủ doanh nghiệp chưa sẵn lòng, ý kiến ngược lại thì bảo tại CEO làm thuê không biết thích nghi...
Nếu có cơ hội phân tích, người viết bài này cũng sẽ đưa ra hàng loạt nguyên nhân để đi đến kết luận, tương tự kết luận ở các diễn đàn, là... lỗi từ cả hai phía.
Câu chuyện về mối “lương duyên” nhiều trục trặc giữa chủ doanh nghiệp Việt và CEO làm thuê sẽ còn kéo dài, và khó có hồi kết.
Tuy vậy, ở một khía cạnh khác, bài viết này đưa ra một thực tế còn buồn hơn, không chỉ diễn ra trong doanh nghiệp Việt, mà đôi khi còn có ở cả các tập đoàn đa quốc gia, các công ty nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam - nơi có người Việt làm việc.
Thực tế này diễn ra khá thường xuyên, đến nỗi gần như trở thành “nét văn hóa” ở nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp Việt.
Nhiều cán bộ quản lý giỏi, được doanh nghiệp “trải thảm đỏ” mời về, chỉ chống chọi được một thời gian ngắn đã vội vàng dứt áo ra đi, không phải vì ông chủ hay bà chủ khó tính, cũng không phải vì họ không có khả năng, mà vì một “lực lượng thứ ba” luôn thường trực, sẵn sàng “gây chiến”.
Đáng quan ngại hơn, “lực lượng thứ ba” này thường không phải chỉ một, mà là nhiều người, tạo thành một lực lượng hùng hậu, đôi khi gây áp lực lên cả chủ doanh nghiệp. Lực lượng này là rào cản cho mọi sự thay đổi trong doanh nghiệp, là “pháo đài” chống trả quyết liệt mọi sự “xâm nhập” của người ngoài.
Và, trong nhiều trường hợp, nó chính là mối nguy cơ tiềm ẩn trong doanh nghiệp, dẫn đến sự trì trệ, yếu kém, thậm chí sụp đổ của một tổ chức.
Những ai từng một lần được mời làm “sếp” mới ở một doanh nghiệp nào đó có “văn hóa” khép kín, cố thủ, hẳn dễ dàng cảm nhận được sức ép từ lực lượng này.
Họ là những người cũ, làm việc lâu năm, được đề bạt lên những chức vụ khá quan trọng trong công ty, nhưng chưa đủ tầm để được giao cho trọng trách cao hơn, và vì thế thu nhập, quyền lợi cũng chỉ ở mức “tầm tầm”.
Họ chờ đợi, trông ngóng nhiều năm, nhưng do hạn chế về năng lực, nên vẫn chỉ được bố trí ở cấp độ vừa phải. Biết sức mình, họ cũng bằng lòng với vị trí và an tâm làm việc cho đến khi có nhân vật mới được bố trí làm “sếp” của họ.
Đầu tiên là họ soi mói, tìm hiểu về lương bổng, thu nhập và các chế độ của người mới. Khi thấy vị này được hưởng những chế độ mà họ cho là “trên trời”, lập tức họ co cụm, phòng thủ, bất hợp tác và chờ sơ hở để tấn công.
Nếu bị giao nhiệm vụ cụ thể và bị làm “căng”, họ có thể dùng nhiều “chiêu” để phản đối, như cáo ốm để nghỉ, viện dẫn khó khăn, thậm chí có thể đồng loạt xin nghỉ việc, buộc chủ doanh nghiệp phải nhượng bộ bằng cách tách rời “sếp” mới ra khỏi lực lượng này. Như vậy, xem như họ đã vô hiệu hóa được “sếp” mới.
Kết cục gần như là giống nhau: người mới buộc phải ra đi. Người mới ra đi, một thời gian sau, người mới khác về, câu chuyện lặp lại. Dần dần, chính chủ doanh nghiệp cũng không dám mời người mới về. Nhân tài, nghe “danh tiếng” doanh nghiệp, cũng không ai dám “mạo hiểm” hợp tác.
Hệ quả là, doanh nghiệp vẫn ở trong tình trạng lực lượng cũ, cách làm cũ, dẫn đến trì trệ, tụt hậu là điều khó tránh.
Một người Nhật nói: “Người Việt các bạn là kim cương. Vì là kim cương nên viên nào cũng lấp lánh, sáng chói, nhiều góc cạnh và luôn nằm tách rời nhau, không thể gắn kết. Còn người Nhật chúng tôi là đất sét. Vì là đất sét nên chúng tôi có thể kết hợp với nhau, gắn chặt vào nhau để được nhào nặn thành những hình thù như mong muốn”. Câu nói mới thâm sâu làm sao! Đó là bài học về sự đoàn kết.
Tất nhiên, không thể vơ đũa cả nắm, nhưng quả thật trong môi trường kinh doanh, người Việt chúng ta khó thể sánh kịp với người Nhật và các nước khác về khía cạnh đoàn kết, về tinh thần làm việc nhóm để tạo sức mạnh tổng hợp. Một khi cái “tôi” quá lớn, cái “chúng ta” trở nên nhỏ bé, mong manh.
Sự đố kỵ, ganh tỵ không chỉ làm cho doanh nghiệp khó thay đổi, khó phát triển, mà còn tước đi cơ hội cống hiến của những người tài. Nhiều nhân tài, sau một thời gian làm việc, tích lũy kinh nghiệm ở các công ty lớn của nước ngoài, muốn góp sức xây dựng doanh nghiệp Việt, đều đã thất vọng. Không ít trong số họ cuối cùng lại quay về làm việc cho công ty nước ngoài.
Điều gì sẽ xảy ra nếu câu chuyện buồn này cứ tiếp diễn?
Không chỉ ở doanh nghiệp Việt, ngay trong môi trường đa quốc gia, không ít cán bộ chủ chốt người Việt cũng thường “dị ứng” với người mới, đặc biệt, khi người mới là người Việt và được tuyển về để làm “sếp”.
Trong khi đó, nếu “sếp” mới là người nước ngoài, cho dù đó là người đến từ các nước không mấy phát triển, thì không có chuyện đó. Đây quả là thực trạng rất đáng buồn!
Đã có định nghĩa rằng, “Văn hóa là thứ duy nhất còn lại khi tất cả đều mất đi”. Văn hóa ganh ghét, đố kỵ giữa người Việt với nhau trong doanh nghiệp, nếu không bị tận diệt, nó sẽ còn mãi, kể cả khi doanh nghiệp đứng trên bờ vực phá sản.
Ngược lại, văn hóa đoàn kết, chia sẻ cũng sẽ là thứ “còn lại”, ngay cả trong thời điểm doanh nghiệp gặp khó khăn nhất. Chỉ có điều, hai nét văn hóa khác nhau ấy sẽ cho ra những kết cục khác nhau: sự tan rã hoặc tồn tại, phát triển của một tập thể.
Mong sao, mỗi người chúng ta thôi là “kim cương”, mà hãy là “đất sét”!