Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

Thiết lập trung tâm liên lạc khách hàng: “Đãi vàng từ xa”

Cũng có nhiều câu hỏi đặt ra là DN nên trang bị hệ thống hay thuê ngoài? Theo tư vấn của các chuyên gia trong lĩnh vực này, xây dựng một contact center từ công đoạn khảo sát, tư vấn đến khi hệ thống đi vào ổn định, thông thường kéo dài từ 2 - 6 tháng. Chi phí cho một trung tâm cũng có thể rất khác nhau tùy dung lượng, công nghệ, các chức năng của hệ thống, có thể dao động từ vài chục nghìn đến hàng triệu USD.


Dịch vụ chăm sóc khách hàng qua cuộc gọi, email, web, chat góp phần gia tăng lượng khách hàng mới và duy trì lượng khách hàng đang có. Chính vì vậy, việc thiết lập trung tâm chuyên trách liên lạc với khách hàng (contact center) được coi là một điểm nhấn quan trọng trong văn hóa doanh nghiệp và văn hóa chăm sóc khách hàng trong toàn cầu hóa.
Nâng cấp trung tâm
Qua khảo sát, có đến 68% khách hàng cho biết, họ sẽ không sử dụng dịch vụ hoặc sản phẩm của doanh nghiệp (DN) nếu nhận được chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng không tốt. Và cũng theo tổng kết của các DN, họ phải tốn gấp năm lần thời gian, công sức và chi phí để có được một khách hàng mới so với duy trì một khách hàng đang có.
Ấn Độ là quốc gia có lợi thế về Contact Center
Trong trường hợp khách hàng gặp vấn đề với sản phẩm hoặc dịch vụ, nếu được giải quyết thỏa đáng thì có đến 70% khách hàng vẫn tiếp tục sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ của DN đó. Như vậy, sự trung thành của khách hàng sẽ được chuyển hóa thành doanh thu và lợi nhuận của DN.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, ở nhiều DN, contact center còn mới mẻ và chưa tương xứng với vai trò và tiềm năng của DN. Hiện cũng chưa có trường đại học hoặc trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chuyên về lĩnh vực liên lạc với khách hàng. Hầu hết nguồn nhân lực, từ nhân viên trực tiếp chăm sóc khách hàng, trưởng nhóm, giám sát đến quản lý trung tâm, đều được đào tạo nhưng chưa hoàn chỉnh, chưa theo chuẩn quốc tế trong lĩnh vực này.
Các DN đã quan tâm đến contact center đều cho rằng, thiết lập contac center rất quan trọng, nhất là với DN nhỏ. Bởi vì, nó giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh với một bộ máy không quá cồng kềnh. Các DN này đều có kế hoạch đầu tư hệ thống chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp. Trong đó có tới 60% có kế hoạch xây dựng trong vòng sáu tháng tới, 30% đặt kế hoạch thực hiện trong vòng một năm tới và khoảng 10% còn lại cũng lên kế hoạch đầu tư trong hai năm tới.
Có nhiều kênh khác nhau để chăm sóc khách hàng, như qua điện thoại, email, web, chat, SMS, video... Song, về mặt công nghệ, contact center là bước phát triển cao hơn của các trung tâm trả lời khách hàng (call center) trước đây. Nếu call center là hình thức giao tiếp qua điện thoại là chủ yếu, thì contact center là sự kết hợp thống nhất các phương thức tương tác với khách hàng, từ điện thoại, email, website cho đến chat (đối thoại trực tiếp), hay gửi tin nhắn tức thời (instant messaging).
Nhất thuê, vạn tuyển
Contact center cho phép kiểm soát tương tác giữa khách hàng với DN một cách toàn diện. Chẳng hạn, công nghệ tại một contact center giúp kiểm soát quá trình khách hàng truy cập website, tìm kiếm thông tin, từ đó có những giải pháp cải thiện, nâng cao chất lượng của trang web phục vụ độc giả.
Ngoài ra, các cuộc gọi, email, các phiên chat tới trung tâm cũng được quản lý chặt chẽ và được trả lời kịp thời. Điều này không chỉ giúp đa dạng hóa hình thức giao tiếp với khách hàng, mà còn làm tăng chất lượng dịch vụ.
Một contact center chuyên nghiệp sẽ cung cấp cho DN đầy đủ số liệu (thông qua các báo cáo thời gian thực và báo cáo lịch sử) về số lượng các giao dịch (cuộc gọi, email, web, chat...), số lượng cuộc gọi bị rớt, bị nhỡ, các vấn đề khách hàng gặp phải, cấp độ dịch vụ của từng giai đoạn, hiệu suất làm việc của nhân viên...
Qua đó DN có đầy đủ dữ liệu để hoạch định chiến lược chăm sóc khách hàng tốt hơn. Như vậy, contact center không phải tiêu tốn chi phí của DN, mà là tạo ra lợi nhuận. Contact center cũng là nơi tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm hoặc dịch vụ, duy trì tính cạnh tranh cao cho DN. Contact center cũng là nơi DN chủ động dẫn dắt và điều chỉnh thói quen của khách hàng.
Tuy dịch vụ này còn mới đối với nhiều DN nhưng hiện nay, hàng chục công ty tại Việt Nam đang nỗ lực đưa ra nhiều giải pháp để cung cấp dịch vụ này.hầu hết các công ty đều triển khai giải pháp của các hãng cung cấp contact center nước ngoài như: Công ty NTC cung cấp giải pháp của Siemens, Công ty Hệ thống Thông tin FPT cung cấp giải pháp của Cisco, CMC là đối tác của 3Com, Base là đối tác của Avaya, One JSC cung cấp giải pháp của Nortel và Alcatel-Lucent...
Cũng có nhiều câu hỏi đặt ra là DN nên trang bị hệ thống hay thuê ngoài? Theo tư vấn của các chuyên gia trong lĩnh vực này, xây dựng một contact center từ công đoạn khảo sát, tư vấn đến khi hệ thống đi vào ổn định, thông thường kéo dài từ 2 - 6 tháng. Chi phí cho một trung tâm cũng có thể rất khác nhau tùy dung lượng, công nghệ, các chức năng của hệ thống, có thể dao động từ vài chục nghìn đến hàng triệu USD.
Nếu các DN muốn sử dụng nhân lực của mình nhưng không muốn đầu tư toàn bộ hệ thống, thì có thể sử dụng hạ tầng của nhà cung cấp dịch vụ theo hình thức thuê. Theo cách này, các kết nối IP từ nhà cung cấp dịch vụ đến DN thuê dịch vụ sẽ được sử dụng để cho phép các điện thoại viên của DN thuê thực hiện tác vụ xử lý liên lạc của khách hàng như khi họ ngồi tại trung tâm của nhà cung cấp dịch vụ. 

Định vị xu hướng truyền tải thông tin mới

Hành động có trách nhiệm và hành động tức thì là hai điểm được vị diễn giả này nhấn mạnh khi đề cập đến vấn đề quản lý khủng hoảng tại doanh nghiệp, nhằm mục tiêu bảo vệ thương hiệu và kiểm soát thiệt hại, đặc biệt khi thương hiệu chính là tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp và không thể thay thế.


Kỷ nguyên công nghệ đang từng ngày, từng giờ khiến thế giới truyền thông thay đổi chóng mặt. Trong một thế giới biến động không ngừng, làm thế nào để những người làm công tác quan hệ công chúng (PR) và marketing tại doanh nghiệp có thể tiếp cận khách hàng theo cách hiệu quả nhất thông qua các hoạt động truyền thông?
Đó là câu hỏi chủ điểm được đặt ra tại hội thảo "Xu hướng truyền thông mới", do Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức tại Hội An, ngày 26/9, với sự tham gia của đông đảo đại diện doanh nghiệp và các chuyên gia trong lĩnh vực marketing và truyền thông. Câu hỏi này lần lượt đã được các diễn giả phân tích, giải đáp dưới các góc độ khác nhau.
Ad hay Ed?
90% doanh nghiệp cho rằng làm PR là "chạy" cho được một số tin, bài trên báo chí.
90% doanh nghiệp cho rằng làm PR là "chạy" cho được một số tin, bài trên báo chí. 90% các nhà báo cho rằng tin, bài PR là "tô vẽ, đánh bóng" cho doanh nghiệp. Nêu lên những con số tự ước tính nói trên trong phần tham luận của mình, nhà báo kỳ cựu Lê Quốc Vinh, người hiện là Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc tập đoàn Le Group, đã đề cập đến một vấn đề khá hóc búa hiện nay: làm sao lấp đầy khoảng cách giữa mong muốn, nhu cầu truyền thông của doanh nghiệp và sự khách quan, đáng tin cậy của thông tin trên báo chí?
Ông Vinh bắt đầu dẫn giải từ việc phân loại phương thức truyền thông của doanh nghiệp hiện nay thành hai dạng chính: bài viết quảng cáo (advertorial) và bài viết PR (edtorial). Theo đó, advertorial là quảng cáo được viết dưới dạng một bài báo, tuy nhiên có chú dẫn thông báo là bài viết quảng cáo và thường không có tên tác giả. Advertorial cũng thường được trình bày như một phần riêng biệt trong ấn phẩm, và có nội dung do doanh nghiệp (hoặc công ty PR) thực hiện và phê duyệt. Trong khi đó, editoral là bài viết mang tính độc lập của nhà báo, cung cấp các nội dung có mục đích, thông tin xác thực và có xu hướng đáng tin cậy đối với người đọc, nhằm biến thông tin PR trở thành thông tin có giá trị thực sự.
Ưu, nhược điểm của từng loại hình được ông Vinh phân tích cặn kẽ. Mặc dù advertorial khá hữu dụng trong trường hợp doanh nghiệp muốn đặt nặng thông tin về đặc điểm của sản phẩm, khi cần hướng dẫn chi tiết về tính chất hay cách sử dụng sản phẩm, hoặc khi đơn giản là không có một "câu chuyện hay" nào để kể, song dạng bài viết này thường quá chú tâm đến "tô son điểm phấn" cho thương hiệu, tự làm lộ rõ tính chất quảng cáo, đồng thời nội dung thường "nông", hời hợt, thiếu tính hấp dẫn của báo chí, không phù hợp với tiêu chí, đặc điểm của tờ báo. Đó là chưa kể vị trí đặt bài thường không phù hợp, và cách trình bày nhiều khi lạc lõng, không giống phong cách chung của tờ báo.
Những nhược điểm của advertorial lại là ưu điểm của edtorial, khi bài viết do tờ báo phát triển và thực hiện, không bị doanh nghiệp chi phối về nội dung và hình thức, có tính khách quan, chân thực cao và do đó tạo được niềm tin nhất định đối với độc giả. Năm bước cụ thể tạo ra một bài viết edtorial được ông Vinh liệt kê: tìm được một câu chuyện hấp dẫn - câu chuyện đó phù hợp với đặc điểm riêng của tờ báo - câu chuyện đó có nội dung hữu ích cho người đọc - tìm ra những phương thức thể hiện khác nhau - tạo ra những "góc cạnh" khác nhau cho mỗi chủ đề.
"Cả hai phương thức này chúng ta đều sẽ có lúc cần đến. Advertorial đem đến những thông tin mà doanh nghiệp muốn truyền tải một cách trực tiếp và nhanh nhất đến với tâm trí độc giả. Tuy nhiên, edtorial lại để lại ấn tượng sâu sắc và niềm tin chân thực đối với công chúng. Vì thế, chỉ khi nào doanh nghiệp không thể sử dụng hình thức edtorial thì hãy dùng đến advertorial. Biết kết hợp cả hai hình thức này thì doanh nghiệp sẽ có được lợi ích lớn nhất từ một nguồn kinh phí nhất định dành cho công tác truyền thông, mà độc giả thì cũng sẽ có cái nhìn đa chiều hơn về thương hiệu", ông Vinh nói.
Thời của mạng xã hội
Việt Nam hiện có khoảng 24 triệu người sử dụng Internet..
Việt Nam hiện có khoảng 24 triệu người sử dụng Internet (gần 30% dân số), lọt vào top 20 quốc gia và vùng lãnh thổ có số người dùng Internet nhiều nhất thế giới, theo một kết quả điều tra mới công bố gần đây. Lượng người dùng Internet tại Việt Nam cũng là cao nhất trong khu vực Đông Nam Á.
Trong mối tương quan với thực tế này, các mạng xã hội ngày càng có sức lan tỏa lớn, trong khi điều thú vị là các phương tiện truyền thông đại chúng trong nước dường như cũng ngày càng mang tính "đối thoại" nhiều hơn.
Nêu ra những điểm trên, TS. Nguyễn Thanh Sơn, Tổng giám đốc Công ty T&A Ogilvy, lập luận: đã đến lúc các nhà sản xuất/cung cấp sản phẩm, dịch vụ phải nghiên cứu cộng đồng mạng tại Việt Nam, lắng nghe khách hàng nói gì, quan tâm gì..., để từ đó, xây dựng những chương trình tiếp thị khả thi tới khách hàng.
Ông dẫn chứng, theo điều tra, có tới 40% người tiêu dùng châu Á khi mua sản phẩm đều có tham khảo những thông tin qua các mạng xã hội. Nhiều hãng đã xây dựng những trang web mang tính tương tác cao với khách hàng. Các mạng Facebook, Youtube, Twitter... đã được nhiều nhà sản xuất khai thác tối đa thế mạnh trong việc quảng bá hình ảnh sản phẩm, kết nối người tiêu dùng và sử dụng dịch vụ.
Xu hướng truyền thông "truyền miệng" trên phạm vi toàn cầu, bao gồm cả hai kênh online và offline, được TS. Sơn đặc biệt lưu ý với các đại diện doanh nghiệp. Ông "hiến kế", xu hướng này có thể được doanh nghiệp chủ động tạo ra bằng cách tìm kiếm và xác định những nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất định, hoặc thiết lập những nhóm hoạt động nhằm mục đích chia sẻ thông tin và khuyến khích sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Tiếp theo là tạo ra những hoạt động gây tiếng vang và ảnh hưởng trong cộng đồng nhằm tăng độ nhận biết của thương hiệu, gây dựng lòng tin và sự trung thành với thương hiệu.
Quản lý khủng hoảng trong kỷ nguyên kết nối
 Việc tận dụng thế mạnh truyền thông trên nền tảng mạng xã hội là yếu tố mà doanh nghiệp rất nên cân nhắc
Nhìn nhận nhu cầu truyền thông của doanh nghiệp dưới một góc độ khác là quản lý khủng hoảng, ông Yap Boh Tiong, Chủ tịch Tập đoàn Truyền thông Mileage, dẫn chứng một loạt vụ việc thực tiễn từng xảy ra thời gian gần đây trên thế giới: vụ đánh bom Khách sạn Ritz Carlton tại Jakarta (Indonesia), vụ sập đường cao tốc Nicoll tại Singapore năm 2004, vụ đắm tàu chở hàng Hyundai 105, khiến hơn 4.000 ôtô mắc cạn tại đảo Sentosa, cũng trong năm 2004...
Đi từ bản chất, ông Yap Boh Tiong cho rằng khủng hoảng truyền thông của doanh nghiệp thường có tính đột ngột, có tác động mạnh và khẩn cấp, bắt nguồn từ những sự cố lớn. Khủng hoảng thường để lại nhiều hệ quả tiêu cực, có khi kéo dài. Tin tức "ăn theo" khủng hoảng sẽ lan xa hơn khi nó ảnh hưởng trực tiếp đến người dân, khi công ty có danh tiếng, khi dẫn đến thương vong, ô nhiễm môi trường, hoặc có khi đơn giản vì rơi vào đúng thời điểm báo chí... ít tin tức.
Ngày nay, khủng hoảng một khi xảy ra càng khó kiểm soát vì tin tức có thể lan truyền ngay lập tức, độc giả có trình độ cao hơn cũng đồng nghĩa sẽ đòi hỏi nhiều thông tin hơn, cũng như các cộng đồng thông tin ngày càng đông đảo hơn.
Hành động có trách nhiệm và hành động tức thì là hai điểm được vị diễn giả này nhấn mạnh khi đề cập đến vấn đề quản lý khủng hoảng tại doanh nghiệp, nhằm mục tiêu bảo vệ thương hiệu và kiểm soát thiệt hại, đặc biệt khi thương hiệu chính là tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp và không thể thay thế.
Đặc biệt, việc tận dụng thế mạnh truyền thông trên nền tảng mạng xã hội là yếu tố mà doanh nghiệp rất nên cân nhắc, do có thể theo dõi, đo lường chính xác mức độ ủng hộ/phản đối, có thể thiết lập nhanh chóng các đơn thỉnh cầu hay kiến nghị, cũng như giúp tạo ra con đường ngắn nhất để doanh nghiệp tiếp cận và trực tiếp giải thích với công chúng.

Làm thế nào để được khách hàng yêu mến

Nếu khách hàng lớn tiếng cãi vã chỉ vì không nhận được sự hỗ trợ như mong muốn thì điều đó có nghĩa rằng doanh nghiệp đang phải trả giá đắt cho lòng trung thành của khách hàng ấy. Nếu lỗi không thuộc về người mua hàng thì nó thuộc về chính bộ phận nhân viên trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Điều kiện đầu tiên cần chú tâm của các nhân viên bán hàng là đồng cảm và biết chia sẻ cảm xúc với khách hàng. Ai chưa làm được thì phê bình để sửa chữa, ai không thể thỏa mãn đòi hỏi ấy thì phải bị loại bỏ.


Ít doanh nhân nào nắm bắt rõ được mức độ yêu mến của khách hàng dành cho sản phẩm, dịch vụ hay thương hiệu mình. Đơn giản hơn, ai cũng nghĩ để vươn tới vị trí dẫn đầu thị trường, doanh nghiệp phải tạo nên sự khác biệt cho sản phẩm hoặc dịch vụ và cam kết luôn mang đến cho giới tiêu dùng một giá trị bền vững. Điều ấy đồng nghĩa rằng doanh nghiệp cần xây dựng cho được lòng trung thành, kiên định đối với các khách hàng bằng những bước đi hiệu quả nhất.
Một doanh nghiệp được yêu mến sẽ đạt được sự thịnh vượng cao, cả về phương diện tài chính lẫn tinh thần.
Nghiên cứu cho thấy những doanh nghiệp có dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt thường tỏ ra “miễn nhiễm” trước những đợt biến động tiêu cực của thị trường, chẳng hạn như khi xảy ra một cuộc chiến tranh giá cả. Một khi doanh nghiệp đứng vững nhờ giá trị cốt lõi trong lúc kinh doanh, khách hàng sẽ tiếp tục duy trì niềm tin vào thương hiệu ấy, luôn tìm cách quay trở lại dù trong bối cảnh nền kinh tế gặp khó khăn hay bị khủng hoảng. Tóm lại, chuyên tâm duy trì vững niềm tin và sự trung thành của khách hàng sẽ mang đến những hệ quả vô cùng tốt đẹp.
Dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, vẫn có thể tạo nên dấu ấn để đời.
Hãy chủ động tạo ra những thời khắc thật đặc biệt cho khách hàng để làm đọng lại trong tâm trí họ những dấu ấn khó phai. Doanh nghiệp nào cũng luôn có cơ hội gây ấn tượng và tái tạo hình ảnh với khách hàng của mình. Do đó, hãy lập danh sách những khách VIP và phát triển những chương trình cảm tạ khách hàng thân thiết. Dù chỉ gửi một chiếc thiếp chúc mừng sinh nhật hay một cú điện thoại nhắc nhở về chương trình khuyến mãi đặc biệt cho khách hàng là doanh nghiệp đã tạo nên được sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh.
Hoàn thiện nghệ thuật xin lỗi.
Mọi doanh nghiệp đều có thể phạm phải sai lầm với khách hàng. “Xin lỗi!” không đơn giản là một câu cửa miệng thể hiện sự nhã nhặn trong lúc nhận lỗi, mà còn là một nghệ thuật chỉnh sửa sự gãy đoạn trong việc kết nối cảm xúc với người nghe. Thái độ xin lỗi khách hàng cần chủ động, khiêm nhường, chân thành và tỏ rõ thiện ý muốn sửa chữa tình huống.
Sẵn sàng phê bình, chỉ trích và thậm chí loại bỏ những bộ phận tạo nên sự phản cảm nơi khách hàng.
Nếu khách hàng lớn tiếng cãi vã chỉ vì không nhận được sự hỗ trợ như mong muốn thì điều đó có nghĩa rằng doanh nghiệp đang phải trả giá đắt cho lòng trung thành của khách hàng ấy. Nếu lỗi không thuộc về người mua hàng thì nó thuộc về chính bộ phận nhân viên trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Điều kiện đầu tiên cần chú tâm của các nhân viên bán hàng là đồng cảm và biết chia sẻ cảm xúc với khách hàng. Ai chưa làm được thì phê bình để sửa chữa, ai không thể thỏa mãn đòi hỏi ấy thì phải bị loại bỏ.
Ở vị trí lãnh đạo, bạn hãy trở thành tấm gương.
Là một nhà quản trị kinh doanh, bạn cần thiết lập tiếng nói chung cho mọi nhân viên. Bạn phải đi đầu trong việc xây dựng uy tín của doanh nghiệp và trân trọng cao độ với mọi khách hàng, có vậy các nhân viên của bạn mới noi theo. Hãy luôn tỏ ra dễ dàng tiếp cận, tôn trọng khách hàng cả trước mặt và sau lưng họ. Chủ động gặp gỡ, trao đổi với họ thường xuyên và tìm hiểu những nhu cầu của họ bằng chính ngôn từ của họ. Nên thực hiện những đợt kiểm tra trong nội bộ doanh nghiệp để giúp mọi người tại mọi vị trí đều biết coi trọng việc duy trì lòng trung thành của khách hàng.

Đã đến lúc phải có CISG

Điểm cuối là CISG đã được soạn thảo cách đây gần 40 năm, mặc dù các nguyên tắc cơ bản vẫn giữ nguyên giá trị hiện đại, nhưng đã phát sinh nhiều vấn đề mới mà CISG chưa điều chỉnh kỹ càng (ví dụ thương mại điện tử). Những vấn đề này đang được nỗ lực cải thiện bởi các chuyên gia về CISG bằng cách phát triển các diễn giải để áp dụng CISG cho các vấn đề mới dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nó.


Khối lượng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng gia tăng kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, do chưa gia nhập Công ước Viên của Liên Hiệp Quốc (công ước về mua bán hàng hóa quốc tế - CISG), cũng như chưa có sự hiểu biết về công ước này, nên doanh nghiệp đã gặp nhiều bất lợi trong giao dịch mua bán hàng hóa với các đối tác nước ngoài.
Có hiệu lực từ ngày 1/1/1988, CISG hiện điều chỉnh đến 3/4 giao dịch thương mại thế giới, là công ước quốc tế về thương mại đang được áp dụng rộng rãi và cũng là cơ sở pháp lý, đem lại sự công bằng cho các thương vụ mua bán quốc tế.
Bên cạnh đó, CISG còn mang lại cho các nước thành viên những lợi ích khác, như: tiết kiệm chi phí đàm phán luật, giảm thiểu rủi ro pháp lý khi chọn luật nước ngoài, dung hòa quyền lợi và trách nhiệm của cả người bán lẫn người mua, tăng thế cạnh tranh và khả năng hòa nhập của doanh nghiệp (DN)...
Theo Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (Eurocham), gia nhập CISG không chỉ là một bước tiến quan trọng giúp Việt Nam tăng cường hội nhập quốc tế, mà còn giúp DN Việt Nam và nước ngoài thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa hiệu quả hơn, giải quyết tranh chấp nhanh gọn hơn.
Tuy nhiên, theo đánh giá mới đây của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), mức độ tham gia của Việt Nam vào các điều ước quốc tế đa phương quan trọng, có ảnh hưởng đến thương mại còn thấp hơn mức trung bình trong khu vực và trên toàn thế giới.
Mới đây, tại hội thảo “CISG - The rule of law” (CISG - Nguyên tắc của luật) do Công ty Dịch vụ tư vấn pháp lý về giao dịch thương mại quốc tế EPLegal phối hợp với Eurocham tổ chức, nhiều ý kiến cũng khẳng định, CISG giúp DN của nước có nền kinh tế yếu hơn được đối xử công bằng hơn. Do đó, gia nhập CISG càng chậm thì DN Việt Nam càng phải chịu nhiều rủi ro, thiệt thòi trong giao dịch mua bán với nước ngoài.
Chẳng hạn, trường hợp Công ty TNHH Thương mại Blue Hat (nhà phân phối chính thức của hãng phần mềm Panda Security) ký đơn mua hàng mua sắm các thiết bị và phần mềm của hãng Panda Security (thông qua một công ty tại Singapore) trị giá 15.000USD.
Vì người phụ trách thương mại không có kinh nghiệm về hợp đồng và không để ý đến vấn đề này nên khi nhận được phiếu chào giá đã ký trả lại ngay (phiếu chào giá này chỉ dài một trang, không có quy định về các điều kiện bảo hành, nghĩa vụ, trách nhiệm bồi thường..., và đặc biệt là không quy định luật áp dụng hay hình thức giải quyết tranh chấp).
Khi xảy ra tranh chấp do bên bán hàng Panda Security giao hàng không đáp ứng yêu cầu và hai bên không thể xử lý bằng hòa giải, Blue Hat đã dọa kiện Panda ra tòa. Tuy nhiên, vì hợp đồng không quy định gì về vấn đề này, phía Panda cho rằng đã thực hiện đúng hợp đồng.
Phía Blue Hat dù muốn theo kiện cũng không biết sẽ kiện ở Việt Nam hay Singapore, kiện ra tòa hay trọng tài... với trị giá hợp đồng quá thấp so với chi phí pháp lý, thuê luật sư có thể phải gánh chịu, Blue Hat đành chấp nhận ngậm bồ hòn làm ngọt và chịu mọi thua thiệt do phía đối tác nước ngoài gây ra.
Ông Nguyễn Trung Nam, chuyên gia cố vấn về CISG, Giám đốc Điều hành Công ty EPLegal, phân tích: “Ở trường hợp thứ nhất, do Việt Nam chưa phải là thành viên CISG nên các bên không thể dự đoán tòa án nào sẽ có thẩm quyền xét xử vụ kiện này; và luật nào sẽ được áp dụng để xét xử, có thể là luật Singapore, hoặc luật Việt Nam, hoặc luật nào mà tòa án, tòa trọng tài cho rằng phù hợp.
Nếu Việt Nam đã là thành viên của CISG và Singapore cũng là một nước thành viên của CISG, thì giao dịch mua bán hàng hóa giữa Blue Hat và Panda đương nhiên là đối tượng điều chỉnh của CISG.
Nếu có tranh chấp, Blue Hat có thể đâm đơn kiện lên tòa án kinh tế Việt Nam, hoặc đề nghị với Panda cùng thỏa thuận xét xử tranh chấp bằng hình thức trọng tài tại VIAC hoặc SIAC. Tòa án hoặc tòa trọng tài sẽ áp dụng CISG để phân xử một cách công bằng, đảm bảo lợi ích của cả hai bên.
Về phía Việt Nam, Blue Hat sẽ có nhiều cơ hội và tự tin để theo kiện hơn vì họ có thể nghiên cứu nội dung của CISG một cách dễ dàng mà không cần phải có nhiều kiến thức về luật và hoàn toàn miễn phí (so với việc phải nghiên cứu các án lệ của Singapore về tranh chấp mua bán hàng hóa). Rõ ràng, CISG đã giúp đảm bảo công bằng chắc chắn và chi phí thấp nhất cho cả hai phía”.
Trong bài viết có nhắc đến một số tình tiết, sự kiện minh họa liên quan đến các công ty Blue Hat và Panda Securities.
Các tình tiết, sự kiện miêu tả trên là các tình huống giả định, hoàn toàn nhằm mục đích minh họa cho bài viết và không ám chỉ bất cứ doanh nghiệp, công ty nào đang hoạt động trên thực tế.
Tuy nhiên, các chuyên gia nghiên cứu kinh tế, các luật sư cũng lưu ý DN Việt Nam một số điểm khi áp dụng CISG. Thứ nhất, CISG không áp dụng cho một số giao dịch , như mua bán hàng với người tiêu dùng cuối cùng, mua bán dịch vụ, bảo hiểm, hoặc một số vấn đề như tính hiệu lực của hợp đồng...
Những trường hợp này cần có nguồn luật bổ sung để áp dụng tùy thỏa thuận các bên, hoặc theo quyết định của trọng tài/tòa án. Nếu nguồn luật bổ sung là luật quốc gia của một bên tham gia giao dịch, thì về tương đối sẽ bất lợi cho bên còn lại.
Thứ hai, công ước này không được áp dụng hoàn toàn chuẩn xác như nhau tại các quốc gia và tòa án khác nhau. Đặc biệt, ở một số quốc gia quen thuộc với hệ thống thông luật (common law) như Mỹ, New Zealand, Úc, CISG thường bị các tòa án, tòa trọng tài xét xử có xu hướng lẩn tránh áp dụng và thay bằng luật quốc gia, dẫn đến hệ quả là giảm tính hiệu quả của CISG.
Điểm cuối là CISG đã được soạn thảo cách đây gần 40 năm, mặc dù các nguyên tắc cơ bản vẫn giữ nguyên giá trị hiện đại, nhưng đã phát sinh nhiều vấn đề mới mà CISG chưa điều chỉnh kỹ càng (ví dụ thương mại điện tử). Những vấn đề này đang được nỗ lực cải thiện bởi các chuyên gia về CISG bằng cách phát triển các diễn giải để áp dụng CISG cho các vấn đề mới dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nó.
Vì vậy, trong thời gian tới, chắc chắn CISG vẫn sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Bên cạnh đó, do CISG chưa có bản dịch chuẩn sang tiếng Việt được công nhận rộng rãi, các DN nhỏ và vừa nên xem xét phiên bản tiếng Anh gốc, hoặc nhờ tư vấn các vấn đề không rõ khi nghiên cứu, tìm hiểu về công ước này. Cũng có thể nhờ hỗ trợ miễn phí của các chuyên gia trên trang diễn đàn của CISG Việt Nam tại www.cisgvn.wordpress.com.

“làm cho hiểu nhau”

Vào buổi chiều thứ Sáu hàng tuần, trưởng các bộ phận dành ba tiếng đồng hồ để ghé thăm các phòng, ban để nghe nhân viên chia sẻ nguyện vọng của họ cũng như giải thích cho họ hiểu những vấn đề họ còn thắc mắc. Song, quan trọng nhất của truyền thông nội bộ là không áp đặt thông tin một chiều, thông tin không nên là mệnh lệnh buộc nhân viên thực hiện, mà phải cho họ quyền nói “Không!”.


Do quá chú trọng đến thương hiệu và các thông tin đối ngoại, nhiều doanh nghiệp đã bỏ quên một “vũ khí” quan trọng góp phần không nhỏ để mang lại thành công, đó là truyền thông nội bộ.
“Rỉ tai người trong nhà”
Thực tế này đã được ghi nhận tại buổi giao lưu “Cà phê sáng thứ Bảy” do Hội doanh nghiệp Trẻ (YBA) phối hợp với Công ty Plan A Group tổ chức. Các ý kiến cho rằng, trong một tổ chức, một cộng đồng, sự thông hiểu nhau về công việc, chức năng, sứ mệnh, quyền lợi và cách thức sống chung với nhau giữa các cá nhân là điều kiện tiên quyết để hòa hợp, để giúp tổ chức phát triển và vững mạnh.
Trong môi trường doanh nghiệp (DN), “làm cho hiểu nhau”, còn gọi là truyền thông nội bộ, là một trong những “vũ khí” tạo nên thành công. Việc xem nhẹ hoặc không quan tâm đến yếu tố này đã khiến DN đứng giữa sự chông chênh do khác biệt quá lớn giữa bên trong và bên ngoài, khiến những thông tin trong DN được người ngoài thông hiểu trong khi “người trong nhà” lại không hiểu, không hay biết.
Bà Việt Nga, nguyên phụ trách bộ phận ngành hàng cao cấp với thương hiệu mỹ phẩm Lancome (thuộc văn phòng đại diệnL’Oréal Việt Nam) và đồng sáng lập Công ty Quảng cáo Buzz, giải thích: “Truyền thông nội bộ là một khái niệm không mới, đã được đề cập cách đây hai năm, nhưng vẫn chưa được các DN quan tâm và chưa có tính hệ thống. Thông thường, khi còn là một DN nhỏ, các giám đốc thường bao quát hết công việc, từ chỉ đạo, định hướng, sắp đặt công việc đến truyền thông tin cho nhân viên... Cách làm này xem ra khá ổn, nhưng khi DN phát triển với quy mô lớn hơn thì bắt đầu bộc lộ nhiều bất ổn".
Thực tế cho thấy, khi không có sự truyền thông, thấu hiểu chủ trương của công ty, chính sách của ban lãnh đạo, chắc chắn mỗi nhân viên sẽ có một cách hiểu và phát tán những thông điệp khác nhau ra bên ngoài, gây nhiễu thông tin hay thông tin không đồng nhất. Mặt khác, thông tin “méo mó” sẽ gây sự ức chế, phát sinh ấm ức dẫn đến nói xấu lãnh đạo, đồng nghiệp cùng với thực hiện sai kế hoạch của công ty.
Theo ông Huy Nguyên, CEO của Tập đoàn Kinh Đô: “Bản chất cốt lõi của truyền thông là sự giao thoa giữa con người với con người, và giữa con người với tổ chức. Vì vậy, thông tin phải rõ ràng, đi thẳng vào vấn đề và người truyền đạt thông tin phải thấu hiểu mục tiêu của công ty, các thông tin truyền đến nhân viên phải khớp với chiến lược của công ty để mọi người cùng đi đến một cái đích chung.
Muốn nhân viên phối hợp hành động hiệu quả, điều quan trọng là không nên tham khảo và áp dụng một cách máy móc những gì người khác đang làm, thay vào đó, những gì chúng ta lựa chọn và tiếp nhận phải phù hợp với tuổi đời và hoàn cảnh của DN.
Các DN có vòng đời càng lớn thì tính phối hợp càng cao. Khi có không khí cộng đồng, mỗi thành viên trong tổ chức sẽ phô diễn những mặt hay cũng như tính sáng tạo của họ. Khi các mặt tích cực này càng bật ra nhiều thì sức mạnh của tổ chức đó sẽ được nâng lên nhiều lần. Vì vậy, kinh nghiệm cho thấy, truyền thông điệp không nên chỉ từ trên đưa xuống, mà cần cho nhân viên đóng góp, tạo ra chính thông điệp, từ đó họ mới làm chủ thông tin. Khi nhân viên làm được điều này, đồng nghĩa với người lãnh đạo có thời gian tập trung vào việc mở rộng thị trường.
Điều khiển thông tin
Chia sẻ kinh nghiệm từ Kinh Đô, bà Nguyễn Thị Ngọc Liên, Giám đốc Truyền thông Công ty Kinh Đô, khẳng định thêm: “Truyền thông nội bộ của chúng tôi bắt đầu từ chiến lược của công ty. Với một công ty lớn như Kinh Đô, trước tiên phải xác định giá trị cốt lõi, tầm nhìn, sứ mệnh... của công ty là gì, sau đó mới nghiên cứu để có những chiến lược PR; và phương thức thực hiện gồm truyền thông cho người tiêu dùng, cổ đông, đối tác và nội bộ.
Về lộ trình truyền thông, ngoài nội dung rõ ràng, dễ hiểu, nhất quán, điều quan trọng nhất là phải truyền được cảm hứng và xây dựng chiến lược truyền thông cũng phải theo từng giai đoạn”. Thông thường, khi nói đến tổ chức sự kiện, nhiều người vẫn cho rằng đó là hoạt động đối ngoại nhưng với Kinh Đô, để việc truyền thông nội bộ đạt hiệu quả, công ty thường xuyên tổ chức các sự kiện trong nội bộ nhân viên, chẳng hạn, tổ chức các cuộc thi để truyền đạt cho nhân viên thông điệp của công ty bên cạnh việc phát hành bản tin nội bộ.
Đại diện Ngân hàng ANZ, bà Lê Phương Phương, Giám đốc Tiếp thị, cũng đóng góp ý kiến: “Trong khi với nhiều DN, khách hàng là trên hết thì tại ANZ, nhân viên mới là số một. Bởi vì, một khi nhân viên hạnh phúc thì họ mới đem lại hạnh phúc cho khách hàng. Tuy nhiên, khi DN coi nhân viên là tài sản quý giá thì người lãnh đạo cũng phải dũng cảm lựa chọn đúng người”.
Để truyền thông nội bộ thành công, ANZ cũng xây dựng kế hoạch, mục tiêu hằng năm và làm thành quy trình để triển khai. Trong quá trình thực hiện, điều quan trọng nhất là phải lắng nghe ý kiến phản hồi của nhân viên và thường xuyên chia sẻ thông tin với bộ phận liên quan.
Thực tế, có những thông điệp mà không phải nhân viên nào cũng có thể hiểu được thấu đáo. Vì vậy, để truyền đạt thông tin hiệu quả, ANZ đã có cách truyền tải, cách làm phù hợp với đối tượng tiếp nhận và cứ sau sáu tháng là phải cập nhật bảng phân công công việc để nhân viên biết họ đang ở đâu.
Vào buổi chiều thứ Sáu hàng tuần, trưởng các bộ phận dành ba tiếng đồng hồ để ghé thăm các phòng, ban để nghe nhân viên chia sẻ nguyện vọng của họ cũng như giải thích cho họ hiểu những vấn đề họ còn thắc mắc. Song, quan trọng nhất của truyền thông nội bộ là không áp đặt thông tin một chiều, thông tin không nên là mệnh lệnh buộc nhân viên thực hiện, mà phải cho họ quyền nói “Không!”.
Cho dù hầu hết các DN nước ngoài hiện nay đều sử dụng điện thoại, email và chat nội bộ như một công cụ truyền thông nội bộ hiệu quả, nhưng tại Việt Nam, do văn hóa phương Đông nên email, điện thoại chỉ là phương tiện giúp rút ngắn thời gian. Đừng quá lạm dụng email, điện thoại, mà nên “mặt đối mặt” trong trao đổi, truyền đạt thông tin, vì đó vẫn là cách truyền cảm xúc hiệu quả hơn cả.

Phát triển doanh số từ việc chăm sóc người phân phối hàng


Ở Hà Lan nói riêng và các nước phương Tây nói chung, người dùng luôn là người quyết định. Do vậy, những đơn vị sản xuất các mặt hàng lương thực, thực phẩm phải thực hiện quảng cáo trên truyền hình, trên báo chí... để tác động trực tiếp đến người dùng.

Trước đây, khi về Việt Nam để thực hiện luận án “Làm thế nào quảng bá để có thể vay vốn kinh doanh nhỏ lẻ”, khảo sát trên đối tượng là những phụ nữ làm nghề buôn bán, kinh doanh dịch vụ nhỏ tại TP.HCM, Quảng Trị, Đà Nẵng, Hà Nội..., tôi thực sự bất ngờ vì rất nhiều “bà chủ” đã tiếp thị trong vô thức, nghĩa là làm những việc mà chẳng biết những việc đó đã quảng bá cho doanh nghiệp của mình.
Đơn giản như họ biết cách trưng bày hàng hóa cho hấp dẫn, giảm giá khi không có “tiền lẻ” thối cho khách quen... Đặc biệt là nói chuyện, thân thiện với khách hàng. Xuất phát điểm, tôi nghĩ, cũng từ việc trọng tình cảm trong lối sống của người Việt Nam.
Và cũng từ đó mà tôi phát hiện, ở chiều ngược lại, khách hàng Việt Nam lại là người rất hay tin vào người bán. Quan sát thực tế, rất dễ bắt gặp hình ảnh người mua hỏi ý kiến người bán khi phải lựa chọn nhãn hàng. Do đó, gây dựng, thuyết phục và tạo hình ảnh đối với đội ngũ nhân viên bán hàng là việc cần thiết hơn cả.
Điều này rất ít nhân viên bán hàng, nhất là những người mới vào nghề chịu chú ý. Vừa tốt nghiệp, có nhiều khát khao, hoài bão, họ luôn muốn chứng tỏ khả năng nên thường xuyên cố gắng đi tìm khách hàng lớn, bỏ qua những tiểu tiết và những mắt xích nhỏ trong hệ thống bán hàng mà không biết mình đang bỏ qua chính cơ hội phát triển doanh số.
Công ty tôi luôn đòi hỏi nhân viên phải tạo được quan hệ tốt với những người bán lẻ. Thường xuyên thăm hỏi, tặng quà hoặc tặng thêm sản phẩm cho đối tượng này. Nhận được quà tặng, tuy là những thứ không đắt tiền, như gấu bông, kệ đựng sản phẩm..., nhưng họ rất vui và hào hứng.
Nhờ vậy mà họ lưu ý, giới thiệu cho khách hàng sản phẩm của chúng tôi nhiều hơn. Tất nhiên, vấn đề đầu tiên và thiết yếu vẫn là phải đảm bảo chất lượng sản phẩm!
Ở Hà Lan nói riêng và các nước phương Tây nói chung, người dùng luôn là người quyết định. Do vậy, những đơn vị sản xuất các mặt hàng lương thực, thực phẩm phải thực hiện quảng cáo trên truyền hình, trên báo chí... để tác động trực tiếp đến người dùng.
Ngược lại, tại Việt Nam, cách tốt nhất là chăm sóc tốt đại lý phân phối và không bao giờ được coi thường người bán hàng. Xây dựng hệ thống bán hàng từ người phân phối vẫn tốt hơn tung tiền tỷ dội bom quảng cáo. Người Việt hình như luôn truyền tai nhau rằng: Quảng cáo chỉ là quảng cáo!

Marketing không áp dụng quảng cáo

Nhưng theo McCartney, số chuyến bay và điểm đến không bao giờ nằm trong tiêu chí xếp loại quy mô hãng hàng không, giống như việc xếp hạng đơn vị bán lẻ dựa trên con số cửa hàng thay vì doanh số bán hàng hoặc tính điểm số trong đấu bóng chày bằng số cú đập bóng ăn điểm thay vì số lần chiếm gôn vậy. Phương pháp xác định quy mô hãng hàng không chuẩn mực là dựa vào độ dài của hành trình bay và doanh thu tính theo số dặm chuyên chở. Delta chỉ xếp thứ ba nếu xét theo tiêu chí này.


Tới một mức độ nào đó, quảng cáo sẽ trở thành một chứng nghiện: một khi bạn đã nghiện, rất khó có thể dừng lại. Bạn trở nên quen với việc đưa một khoản chi phí quảng cáo cố định vào ngân sách của mình, và bạn không dám ngừng lại vì một nỗi sợ hãi vô căn cứ là nguồn khách hàng mới của mình sẽ cạn dần và những khoản đầu tư đã đổ vào quảng cáo trước đó sẽ thành “công cốc” nếu dừng lại. 
Nhằm xem xét hiệu quả của chương trình quảng cáo rầm rộ của một dịch vụ máy tính nội bộ ở một công ty con, công ty chế tạo máy bay lớn nọ đã tiến hành một cuộc khảo sát để tìm ra cách thức vì sao 100 khách hàng mới nhất của công ty đã tìm thấy dịch vụ máy tính nói trên. Kết quả: 13% số những khách hàng này tìm đến dịch vụ nhờ chiến dịch quảng cáo, 23% tìm đến từ các cuộc gọi chào hàng, 56% đăng ký do được các khách hàng khác và những chuyên gia trong ngành giới thiệu, còn 8% không biết chắc chắn tại sao họ chọn dịch vụ máy tính đó.
Đây đích thực là một kết quả khảo sát hoàn toàn phổ biến. Tuy nhiên, như chúng ta có thể thấy từ ngân sách quảng cáo khổng lồ của họ, rất ít công ty hành động dựa theo thông tin nói trên. Nếu vậy thì hẳn là họ đã dành ngân sách cho việc đẩy mạnh hoạt động giới thiệu cá nhân. Thực vậy, một số doanh nghiệp có vẻ như không tin tưởng những gì nghiên cứu thị trường chỉ ra cho lắm – rằng việc giới thiệu cá nhân phát huy tác dụng còn quảng cáo thì không – rằng họ đổ tiền vào quảng cáo cũng chỉ là muối bỏ bể.
Google là một trong những công ty thành công nhất trong lịch sử. Được sáng lập bởi hai sinh viên với khoản tiền vay từ thẻ tín dụng và cứ thế từng bước phát triển, chỉ trong 3 năm, công ty đã thu được lợi nhuận khá cao. Và chỉ sau 5 năm, giá trị của công ty đã lên đến 50 tỉ đô-la với gần 2.000 nhân viên.
Google để những trang tìm kiếm gốc của mình hết sức đơn giản, trắng trơn và dĩ nhiên là miễn phí quảng cáo. Nhưng Google không cho phép quảng cáo (kiểu như những banner trên Yahoo) mà chỉ bán “những niêm yết” và những niêm yết này độc lập với các kết quả tìm kiếm cũng như không gây ảnh hưởng gì tới họ. Chính sách này gần như chưa từng xuất hiện ở các tạp chí, ti vi và báo in.
Không chỉ có những công ty lớn, tầm cỡ quốc gia mới bị thất vọng với hiệu quả quảng cáo. Những cửa hàng bán lẻ ở địa phương khi triển khai chương trình phiếu giảm giá kèm theo để đánh giá hiệu quả hoạt động quảng cáo của mình cũng thấy rằng doanh số thu về thậm chí không đủ để bù vào chi phí dành cho quảng cáo.
Mặc dù vậy, những người ủng hộ quảng cáo vẫn không ngừng thuyết phục các chủ doanh nghiệp nhỏ rằng:
- Việc quảng cáo có thể được cải thiện; hãy tiếp tục cố gắng (điệp khúc muôn thuở).
- Tất cả những người đã xem quảng cáo nhưng không cắt phiếu giảm giá đã biết đến doanh nghiệp của bạn và có thể sử dụng nó trong tương lai. Hãy tiếp tục quảng cáo (điệp khúc muôn thuở).
- Các tác dụng của quảng cáo có tính tích lũy. Nhất định phải duy trì quảng cáo (điệp khúc muôn thuở).
Nhưng những tác dụng lâu dài có lợi của quảng cáo liên tục là gì? Còn điều gì khác ngoài ý niệm không ngừng nhắc công chúng rằng bạn đang tồn tại? Tiến sĩ Julian L. Simon thuộc Đại học Illinois cho rằng chẳng có gì hết: “thực là hết sức hoang đường kỳ quái khi quy những hiệu ứng ngưỡng và thu nhập gia tăng là kết quả của quảng cáo lặp đi lặp lại, nhưng điều hoang đường đó lại được củng cố vững chắc đến nỗi gần như không gì lay chuyển được”.
Sử dụng quảng cáo để khuếch trương thanh thế doanh nghiệp thường cho kết quả ngược lại mong muốn; một doanh nghiệp được quảng cáo rùm beng khắp nơi rất dễ bị tổn thương trước sự công kích từ công chúng.
Lấy nhà máy bia Coors làm ví dụ. Cách đây 30 năm, sau khi nhà máy đã bành trướng lãnh thổ ban đầu và trở thành một đơn vị nổi tiếng khắp mọi miền đất nước với chi phí quảng cáo lớn (100 triệu đô-la mỗi năm trong thập kỉ 80), thì Liên hiệp Công đoàn Teamsters đã phát động một cuộc tẩy chay tiêu dùng rất hiệu quả chống lại nhà máy này. Vào những năm 90, tại thị trấn Seattle, nơi phong trào công đoàn phát triển mạnh, thị phần của Coors chưa đến 5%. Nhà máy bia Coors của những năm 60 – đơn vị chủ yếu được biết đến bởi lượng khách hàng trung thành ở các bang vùng Rocky Mountain với 30% thị phần đồ uống – lại ít bị ảnh hưởng từ cuộc tẩy chay đó hơn.
Một ví dụ khác là công ty môi giới chứng khoán E. F. Hutton – đơn vị đã chi ra nhiều triệu đô-la Mỹ để tạo dựng một hình ảnh quảng cáo sai lầm: “Khi E.F. Hutton nói, mọi người lắng nghe”. Đáng chú ý là hình ảnh này mang lại kết quả ngược với sự mong đợi khi Hutton bị bắt quả tang tham gia nhiều vụ giao dịch tiền tệ bất hợp pháp có quy mô lớn. Có nhiều câu chuyện bi hài xoay quanh những người “thực sự lắng nghe khi E.F. Hutton nói” lại góp phần làm công ty nhanh chóng suy sụp, và cuối cùng nó được một công ty môi giới khác tiếp quản với giá rẻ như bèo. Tương tự, công ty chế biến nông sản lớn nhưng ít tên tuổi Archer Daniels Midland với trụ sở đặt tại vùng nông thôn bang Illinois đã tự biến mình thành một thương hiệu nổi tiếng bắng cách cam kết tài trợ những chương trình truyền hình đại chúng. Và công chúng đã quá quen thuộc với “ADM, Siêu thị của thế giới,” vào thời điểm công ty này dính líu đến một vụ bê bối giàn xếp giá và phải nộp 100 triệu USD tiền phạt.
Việc trở thành một thương hiệu tiếng tăm cũng có những bất lợi nhất định. Martha Steward, nữ hoàng kinh doanh các sản phẩm làm đẹp nhà cửa, người phụ nữ vươn lên từ hai bàn tay trắng này đã biến mình thành trò hề, và đế chế kinh doanh của bà đã lao đao khi bà bị buộc tội gian lận trong giao dịch cổ phiếu.
Cổ phiếu Omnimedia (công ty sở hữu thương hiệu Martha Steward) đã rớt giá thê thảm từ 20 USD/cổ phiếu xuống còn 5USD/cổ phiếu sau khi những cáo buộc chống lại bà xuất hiện công khai, thua lỗ cổ phiếu trong ba quý là 1 tỉ đô-la. Phải mất hơn 3 năm và đến khi Martha được phóng thích thì giá cổ phiếu trở lại mức huy hoàng lúc đầu.
Bài học rút ra từ những câu chuyện trên rất đơn giản. Nếu các công ty này ít phụ thuộc vào quảng cáo hơn thì những vấn đề của họ đã ít bị phơi bày ra trước bàn dân thiên hạ hơn.
Đáng buồn thay, nhiều doanh nghiệp nhỏ đã liều “nhắm mắt đưa chân” khi chi bộn tiền cho quảng cáo mà không bao giờ đảm bảo được tính hiệu quả. Đôi khi, điều này có nghĩa là chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp bị giảm xuống. Ngoài ra, các chủ doanh nghiệp hoặc nhân viên phải hy sinh nhu cầu riêng của mình để trả tiền cho quảng cáo. Chúng tôi cho rằng tốt hơn hết là nên sử dụng tiền để tài trợ cho một chuyến dã ngoại trong vùng, đưa gia đình đi nghỉ ngắn ngày hoặc đầu tư tiền vào nâng vốn hữu dụng cho doanh nghiệp. John Wanamaker, thương gia và nhà từ thiện của hai thế kỷ diễn tả: “Phân nửa số tiền tôi sử dụng cho quảng cáo bị lãng phí, và vấn đề là tôi không biết đó là nửa nào”. 
TÁI BẢN CÓ GIẤY PHÉP: DỊCH VỤ TRUYỀN THÔNG TRIBUNE 
Tại sao khách hàng bị lôi cuốn bởi quảng cáo thường không trung thành?
Có lẽ khía cạnh tồi tệ nhất của quảng cáo mà bất cứ ai khi điều hành một cửa hàng bán lẻ đều thuộc nằm lòng là các khách hàng đầu tiên hưởng ứng lại quảng cáo thường là những kẻ nhanh chóng rũ áo ra đi. Những tạp chí và công ty xuất bản quá phụ thuộc vào cách mồi chài khách bằng thư rác để bán hàng cũng nếm phải “trái đắng” tương tự. Sự thật là các khách hàng mới có được bằng các kỹ thuật quảng cáo kiểu súng săn như TV spot, quảng cáo trên báo, thư trực tiếp, các cuộc thi và bán hàng qua điện thoại không theo yêu cầu hiếm khi quay trở lại. Những doanh nghiệp lừa đảo trên Internet kiểu như DoubleClick lấy cắp thông tin cá nhân của bạn rồi bán địa chỉ email của bạn cho những đơn vị khác cũng chỉ là những kẻ quấy nhiễu bạn bằng cái gọi là chiến lược marketing “mục tiêu” dựa vào những trang web bạn ghé thăm hay những khoản mua bán trên mạng của bạn mà thôi.
Ví dụ minh họa cho hiện tượng mà hầu như các chủ sở hữu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nhỏ đã quá quen thuộc là trường hợp của Laura Peck. Cô viết cho chúng tôi rằng cô thường quảng cáo cho các buổi hội thảo giới thiệu sản phẩm của mình, nhưng do những vấn đề về tài chính nên cô đã ngừng quảng cáo. Thay vào đó, cô bắt đầu vun đắp mối quan hệ bạn bè của mình và làm quen với khách hàng. Hai năm sau, công việc kinh doanh khởi sắc, và cô chia sẻ:
“Khi quảng cáo, dường như tôi chỉ thu hút được những khách hàng đến vì chương trình giảm giá. Những khách hàng này thường không quay trở lại; họ hủy bỏ các buổi họp và phần lớn không tham gia vào lần sau. Những người nhiệt tình nhất, trung thành nhất, và không bỏ sót buổi họp nào hầu như luôn là những người được giới thiệu trực tiếp. Nếu không vì vấn đề kinh tế liên quan, có lẽ tôi đã không học được bài học quan trọng này: giới thiệu cá nhân là hình thức quảng cáo hiệu quả nhất sẵn có”.
Tại sao phụ thuộc vào quảng cáo lại có hại
Tới một mức độ nào đó, quảng cáo sẽ trở thành một chứng nghiện: một khi bạn đã nghiện, rất khó có thể dừng lại. Bạn trở nên quen với việc đưa một khoản chi phí quảng cáo cố định vào ngân sách của mình, và bạn không dám ngừng lại vì một nỗi sợ hãi vô căn cứ là nguồn khách hàng mới của mình sẽ cạn dần và những khoản đầu tư đã đổ vào quảng cáo trước đó sẽ thành “công cốc” nếu dừng lại.
Tất nhiên, cũng có những dịp hiếm hoi khi một quảng cáo đặc biệt có thể tạo ra hiệu quả kinh doanh đáng kể. Trong giới kinh doanh nhỏ lẻ, xác suất này cũng thấp như việc bắt được một con cá hồi nặng 30 pao từ một thuyền câu giải trí hay thắng được 100.000 USD tại sòng bạc. Câu chuyện về thành công lớn từ quảng cáo (sở thích kỳ cục “hòn đá cưng” 10 năm về trước là một ví dụ điển hình) trở nên nổi tiếng trong cộng đồng và được đăng trên những tờ tạp chí thương mại. Kết quả là, nhiều doanh nhân thiếu kinh nghiệm thấy bùi tai đã chi tiền cho quảng cáo. Mọi người đã quên mất xác suất cực thấp của loại thành công này cũng như những hậu quả thường xảy ra đối với những người mà quảng cáo mang lại cho họ lợi nhuận trước mắt. Thành công quảng cáo chớp nhoáng có thể mang lại luồng khách hàng ban đầu mà doanh nghiệp của bạn chưa chuẩn bị sẵn sàng đón nhận. Điều này thường dẫn đến hai hậu quả tồi tệ: nhiều khách hàng lâu dài trung thành bỏ đi khi chất lượng dịch vụ sa sút vì doanh nghiệp phải gồng mình dàn mỏng lực lượng để đáp ứng nhu cầu, và phần lớn khách hàng mới sẽ không trở lại lần sau.
Mary Palmer, một thợ chụp ảnh ở San Jose, California, khởi đầu việc kinh doanh bằng một chiến lược marketing đơn giản nhưng truyền thống, quảng cáo trên chuyên mục “lễ cưới” của tờ báo địa phương. Palmer là một trong những người đầu tiên trong vùng lồng quảng cáo cho ảnh cưới. Cô đã vô cùng hoan hỉ thu về 12.000 USD trong mùa cưới đầu tiên kéo dài từ tháng Tư đến tháng Tám. Năm sau, cô lại quảng cáo, nhưng lần này loại hình quảng cáo đó đã quá phổ biến. Không những quảng cáo không mang lại hiệu quả mà những mối làm ăn được những khách hàng mà cô đã phục vụ năm ngoái giới thiệu cho cũng ít đi. Cảm thấy lo lắng, Palmer đã gọi cho chúng tôi để xin tư vấn kinh doanh khẩn cấp.
Tới thăm cô, chúng tôi thấy rằng cửa hiệu của cô được tổ chức rất tồi và nhìn chung là khá lộn xộn. Ấn tượng chung về hiệu chụp ảnh của cô là nó quá xấu. Thật dễ hiểu là tại sao có quá ít khách hàng của Palmer giới thiệu bạn của mình, hoặc bản thân họ ghé tới chỗ cô trong các dịp khác. Palmer là nạn nhân của thành công quảng cáo chớp nhoáng của chính mình. Sự sùng bái “quảng cáo phát huy tác dụng” đã ru ngủ cô với niềm tin sai lầm rằng cô thực sự không cần phải học cách điều hành một doanh nghiệp chất lượng cao. Chúng tôi cũng không thể tư vấn nhiều cho cô ngoại trừ việc khuyên cô nên bắt đầu lại từ đầu, sử dụng những kỹ thuật kinh doanh bài bản và phương pháp giới thiệu cá nhân được trình bày trong cuốn sách này.
Việc kinh doanh của Palmer trái ngược hoàn toàn với Gail Woodridge – một thương gia cũng chuyên về chụp ảnh cưới. Woodridge không tiến hành bất cứ hoạt động quảng cáo nào theo cách truyền thống, mặc dù cô có niêm yết nhiều các dịch vụ của mình ở nhiều nơi để thu hút khách hàng, phần này sẽ được trình bày sau trong Chương 9. Khách hàng của cô chủ yếu là được những người tổ chức đám cưới, các cửa hàng hoa và áo cưới, bạn bè và khách hàng cũ – những người biết rõ và tin vào chất lượng công việc của cô – giới thiệu. Với phương pháp tiếp cận này, doanh nghiệp của cô phát triển khá chậm nên cô có thời gian và kiến thức để đảm bảo rằng nhiều mảng trong doanh nghiệp được sắp xếp có trật tự, bao gồm công việc văn phòng và tài chính, cũng như thiết bị chụp ảnh, phòng tối và hệ thống xếp hồ sơ.
Những đơn vị quảng cáo: người bạn đồng hành tồi
Theo một khảo sát chi phí tiêu dùng gần đây, chi tiêu của các hộ gia đình là 4.000 tỉ đô-la mỗi năm. Ước tính chi phí cho quảng cáo trên báo, tờ rơi, radio, trực tuyến và truyền hình nhằm giành lấy một phần trong thị trường này là khoảng 236 tỉ đô-la. Kết quả này khiến ta phải rùng mình. Nó cũng cho biết rằng mỗi người Mỹ tiếp xúc với trên 5.000 thông điệp quảng cáo mỗi ngày, và trẻ em xem hơn 50.000 chương trình thương mại trên truyền hình mỗi năm. Theo quan điểm của chúng tôi, có đến một phần tư trong số những quảng cáo này là những trò lừa bịp cố ý. Dần dần, những doanh nghiệp được quảng cáo không phải là loại hình bạn nên tự hào khi giao thiệp làm ăn cùng.
Bạn có hoài nghi câu khẳng định “phần lớn quảng cáo là không trung thực” của chúng tôi hay không? Hãy tự làm một bài kiểm tra nhỏ. Hãy ngó qua tờ báo địa phương nơi bạn ở giống như chúng tôi đã làm vào một buổi sáng gần đây. Đây là một vài mẩu tin quảng cáo mà chúng tôi nhìn thấy:
Một bài viết quảng cáo của một trung tâm giảm cân hứa hẹn với khách hàng của mình rằng họ sẽ giảm được 5, 10 hay 20 pao một tuần cho khách hàng. Sự thực là một số người chỉ có thể giảm được một phần của số pao dư thừa đó, nhưng có bao nhiêu người trong số họ có thể kiêng khem trong hơn 3 tháng? Trong cuốn sách của mình có tựa đề “Sự thật Trung thực về Giảm cân và Kiêng khem”, Joan Price đã tiết lộ rằng 90% trong số những người ăn kiêng tăng cân trở lại trong vòng một năm. Cô lý giải, “Xin lỗi các bạn, chẳng có cách kỳ diệu nào để ngăn chặn, đốt cháy, xoa bóp, xóc nhẹ, làm tan hoặc lấy mỡ khỏi cơ thể bạn. Không có một viên thuốc, mũi tiêm, loại kem hay liều thuốc nước thần kì nào cả. Nếu có thì không phải chúng sẽ được đăng trên trang nhất của tất cả các tờ báo và tạp chí y học thay vì bị chôn vùi trong một mẩu quảng cáo hay sao?” Tất nhiên, không chỗ nào trong bài quảng cáo đề cập đến việc giảm cân vĩnh viễn bởi vì dù có sử dụng phương pháp nào đi nữa thì cũng không thể mang lại tác dụng về lâu về dài. Nếu quảng cáo nói sự thật, sẽ không có ai sử dụng dịch vụ của họ cả.
Một mẩu quảng cáo phóng đại đã lừa được bạn tôi mua cho con mình một chiếc ô tô đồ chơi điều khiển từ xa nhân dịp lễ Giáng sinh. Mẫu ô tô đồ chơi này vừa được tung ra thị trường. Những người bạn ngây thơ của tôi hòa vào dòng người chen chúc ở quầy thanh toán và tưởng tượng ra khuôn mặt hớn hở của con mình vào buổi sáng Giáng sinh. Trong quảng cáo không hề nói rõ là loại ô tô này cần một bộ pin đặc biệt có thể sạc lại – và khi quay trở lại cửa hàng một tuần trước ngày lễ trọng đại, bạn tôi được thông báo là pin đã được bán hết và phải chờ đến Giáng sinh năm sau. Họ quay lại cửa hàng hết tuần này đến tuần nọ, cuối cùng, hai tháng sau lễ Giáng sinh, pin đã được nhập về cửa hàng. Quá đáng hơn là bộ nạp cho chiếc ô tô đồ chơi 50 USD có giá đến 20 USD.
Một mẩu quảng cáo chào mời một thiết bị an ninh nhà riêng với giá cực rẻ in chữ to có vẻ giống như chiếc thẻ để bảo vệ gia đình bạn khiến bạn cảm thấy ấn tượng cho đến khi bạn đọc đến phần chữ in nhỏ. Trong phần chữ li ti, mẩu quảng cáo giải thích rằng giá 99 USD chỉ bao gồm việc lắp đặt theo chuẩn và cũng cần phải kèm theo một thỏa thuận giám sát 36 tháng. Thêm vào đó, khách hàng còn phải trả phí kết nối điện thoại.
Hãng hàng không lớn nhất Hoa Kỳ?
Trong một bài viết đăng trên Tạp chí Phố Wall (Wall Street Journal) năm 2006, Scott Mc Cartney thông báo “ Đầu hè năm nay, Delta đưa ra tuyên bố ‘Chúng tôi vô cùng tự hào khi được đánh giá là hãng hàng không lớn nhất Hoa Kỳ.’ Trong một bản tin công bố ngày 8 tháng Sáu, hãng vận tải hàng không vùng Atlanta này thông báo rằng họ có “số chuyến bay đến các thành phố ở Hoa Kỳ nhiều hơn bất kì hãng hàng không nào khác.”
Nhưng theo McCartney, số chuyến bay và điểm đến không bao giờ nằm trong tiêu chí xếp loại quy mô hãng hàng không, giống như việc xếp hạng đơn vị bán lẻ dựa trên con số cửa hàng thay vì doanh số bán hàng hoặc tính điểm số trong đấu bóng chày bằng số cú đập bóng ăn điểm thay vì số lần chiếm gôn vậy. Phương pháp xác định quy mô hãng hàng không chuẩn mực là dựa vào độ dài của hành trình bay và doanh thu tính theo số dặm chuyên chở. Delta chỉ xếp thứ ba nếu xét theo tiêu chí này.
Cho dù bạn nhìn vào một tờ báo, tạp chí hoặc phương tiện truyền thông điện tử, khó có thể tìm được nhiều quảng cáo trung thực. Ngay cả nếu bạn quảng cáo theo cách trung thực tuyệt đối, quảng cáo của bạn vẫn mang tiếng xấu. Công chúng vốn từ lâu đã trở nên hoài nghi về mức độ trung thực nói chung trong quảng cáo, sẽ không tin vào những gì bạn nói trên giá trị bề mặt. Ví dụ, giả sử bạn sở hữu một nhà hàng, và thay vì ca tụng sự tuyệt vời của thực đơn trong một bài tán dương cường điệu, bạn chỉ cần nói rõ là bạn phục vụ “thức ăn hảo hạng với giá cả hợp lý”. Nhiều người đã trở nên hoài nghi sau cả cuộc đời bị lừa bịp bởi những lời khẳng định khoa trương, rất có thể kết luận rằng thức ăn của nhà hàng không thể ngon đến thế nếu đó là tất cả những gì bạn có thể nói về nó.

Ministop và hệ thống phân phối đầy sáng tạo


Từ trưa đến 13:00 chiều, bản kê giao hàng cho mỗi nhà sản xuất, bản kê lô hàng cho mỗi cửa hàng và bản kê giao hàng của mỗi lần giao được gửi từ máy chủ đến trung tâm giao hàng tập trung. Hàng được giao sẽ được phân loại cho mỗi cửa hàng phù hợp với bản kê lô hàng. Theo cách này, thời gian yêu cầu cho việc giao hàng được rút ngắn đáng kể.

Hệ thống cửa hàng tiện lợi Ministop là niềm tự hào của tập đoàn bàn lẻ đa ngành lớn nhất Nhật Bản: Aeon. Aeon luôn tự hào là hệ thống cửa hàng tiện lợi của họ sẽ mang đến cho người tiêu dùng những trải nghiệm tốt nhất.
Mặc dù ra đời sau những ông khổng lồ khác như 7Eleven, nhưng hiện nay Ministop đang vươn lên như một thế lực mạnh mẽ. Cửa hàng thứ 6 của Ministop cũng đã xuất hiện tại TP.HCM và được rất nhiều người tiêu dùng yêu thích, đây là một dự án hợp tác giữa Ministop và G7Mart thuộc Tập đoàn Trung Nguyên. Công ty này cho hay sẽ liên tục mở 30 cửa hàng trong năm 2012 như một sự trở lại đầy ngoạn mục của G7Mart.
Tạp chí kinh doanh Yomiuri Shibun đã tóm lược các yếu tố chiến lược giúp Ministop xây dựng thành công một hệ thống phân phối sáng tạo có tính cạnh tranh cao tại Nhật Bản.
1. “Xác lập khu vực chiếm lĩnh”
Ministop không điều hành chuỗi cửa hàng trong các quận phía nam Tokyo mà chỉ ở phía bắc thành phố này. Đặc biệt, Ministop đã mở cửa hàng tại  20 trong số 47 phân khu hành chính ở Nhật. Tại sao Ministop không mở cửa hàng ở nhiều khu vực khác trong khi nó là mô hình được nhiều người yêu thích?
Vì chuỗi cửa hàng tiện lợi mua sản phẩm từ những nhà sản xuất và bán chúng tại cửa hàng. Vì thế , không có sự khác biệt lớn trong giá mua - giá bán. Chi phí phân phối chiếm gần 10% giá mua, và điều này là yếu tố then chốt quyết định tính hiệu quả trong kinh doanh.
Nhiệm vụ quan trọng của hệ thống cửa hàng tiện ích là cố gắng giảm chi phí phân phối. Từ khi thành lập, Ministop đã vận dụng chiến lược của mình theo một phương pháp gọi là “xác lập khu vực chiếm lĩnh”, có nghĩa là tập trung sự hoạt động vào những khu vực nhất định và mở nhiều cửa hàng.

Ministop không mở cửa hàng ở nhiều quận mà chỉ tập trung vào những khu vực nhất định nên chi phí phân phối có thể giảm bởi các nhà cung cấp không phải giao hàng ở cự ly xa. Thời gian giao hàng cũng được rút ngắn.
Có một sự thuận lợi nữa trong chiến lược “xác lập khu vực chiếm lĩnh” là tạo hiệu ứng quảng cáo. Họ có thể tăng doanh số của tất cả các cửa hàng mà không cần quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng, theo đó tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn. Ngoài ra, các nhân viên hỗ trợ và tư vấn có thể di chuyển dễ dàng giúp đỡ chủ cửa hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Từ khi thành lập, Ministop chưa bao giờ thay đổi chiến lược mở cửa hàng theo phương thức “xác lập khu vực chiếm lĩnh” này, họ đã hiểu được tầm quan trọng của hệ thống phân phối.
2. Sử dụng các đại lý bán sỉ
Cho đến nửa đầu thập niên 1980, trước khi Nhật có nền kinh tế phát triển cao thì các nhà sản xuất thường kiêm luôn vai trò là những người bán lẻ.
Vì thị trường thiếu hàng nên các nhà sản xuất giữ một vị trí quan trọng. Họ phát triển sản phẩm và nhận đại lý để phân phối sản phẩm của họ.
Các nhà bán lẻ thường không có được những gì họ muốn bán và Ministop cũng tương tự. Họ muốn được biết đến như một công ty cung ứng mọi sản phẩm chỉ tại một địa điểm duy nhất. Để thực hiện mục tiêu này, Ministop đã tạo ra một hệ thống giao hàng số lượng nhỏ và thường xuyên.
Ministop bắt đầu khắc phục thách thức này bằng một biến đổi mang tính cách tân trong hệ thống hậu cần. Họ tổ chức lại hệ thống hậu cần thành một hệ thống đại lý chỉ định chỉ có nhiệm vụ duy nhất là mua hàng từ nhà sản xuất và giao hàng mà thôi.
Hệ thống hậu cần chỉ đảm đương việc giao hàng hóa và có những thuận lợi sau: Rút ngắn cự ly và thời gian giao hàng, giảm số lượng xe giao hàng. 
Ministop đã chú trọng những tiện lợi do hệ thống giao hàng chuyên biệt này mang lại và yêu cầu sự hợp tác từ các đại lý. Tuy nhiên, bước đầu Ministop gặp phải sự phản đối ở nhiều vùng vì hệ thống giao hàng mới này sẽ vô hiệu hóa hệ thống phân phối hiện có. Tuy nhiên, cuối cùng các đại lý cũng chấp nhận phương thức này.
3. Bảo quản mùi vị và độ tươi của thực phẩm
Để bảo quản mùi vị và sự tươi mới của thực phẩm ở mức cao, nhiệt độ thích hợp phải được duy trì trong suốt lúc giao hàng. Ministop đã chia hàng hóa ra làm bốn loại khác nhau: hàng đông lạnh, hàng ướp lạnh, hàng nhiệt độ bình thường và hàng được đóng gói bảo quản.
Vì cơm hộp là sản phẩm chiến lược chủ chốt cho nên Ministop đã xem xét phương pháp giao hàng tốt nhất. Để duy trì độ tươi, những hộp cơm trưa nhiều loại được giao bởi những chuyến xe đặc biệt có nhiệt độ bên trong là 20 độ C. Vì cơm hộp sẽ khác nhau phụ thuộc vào từng thời gian trong ngày cho nên lịch giao hàng của Ministop sẽ chia làm 3 lần/ngày: sáng, trưa và tối để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Ministop đã giao cơm hộp thậm chí bằng cả máy bay trực thăng và xe máy vào những lúc đường sá bị tắc do thiên tai hay kẹt xe, không tính đến lợi nhuận cho những lần giao này.
Điều này cho thấy thái độ chăm sóc tốt khách hàng rất được Ministop chú trọng. Ministop xem việc bảo quản độ tươi và mùi vị như là một công cụ để khác biệt với hàng hóa của những đối thủ cạnh tranh khác. Vai trò của hệ thống phân phối ngày càng quan trọng hơn khi sự cạnh tranh với các đối thủ ngày càng trở nên gay gắt hơn.
4. Hệ thống thông tin hỗ trợ chiến lược hậu cần
Hệ thống hậu cần của Ministop sẽ không thiết thực nếu không có hệ thống thông tin tổng hợp. Phiếu đặt hàng từ các cửa hàng đến lúc 10:00 sáng trước khi giao hàng một ngày. Thế nhưng, phiếu đặt cơm hộp hay bữa trưa có thể được nhận vào 10:00 sáng và được giao chiều hôm đó.
Thông tin đặt cơm hộp được gửi qua mạng ISDN đến máy chủ tại các văn phòng điều hành và thông tin này được chuyển tự động đến nhà sản xuất và đại lý giữa 10:45 sáng đến trưa. Theo hướng dẫn giao hàng, nhà sản xuất sẽ hướng dẫn cho trung tâm giao hàng tập trung.
Từ trưa đến 13:00 chiều, bản kê giao hàng cho mỗi nhà sản xuất, bản kê lô hàng cho mỗi cửa hàng và bản kê giao hàng của mỗi lần giao được gửi từ máy chủ đến trung tâm giao hàng tập trung. Hàng được giao sẽ được phân loại cho mỗi cửa hàng phù hợp với bản kê lô hàng. Theo cách này, thời gian yêu cầu cho việc giao hàng được rút ngắn đáng kể.
“Hệ thống thông tin”, “Hệ thống giao hàng tập trung”, và chiến lược ”xác lập khu vực chiếm lĩnh” hỗ trợ cho hệ thống hậu cần có một không hai của Ministop.