Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

Xanh ngay trong từ suy nghĩ

Một cao ốc theo xu hướng xanh khác ở TP. HCM là Vincom Center sử dụng kính Low-E, giúp các văn phòng giảm được chi phí vận hành điều hòa nhiệt độ, chống lãng phí năng lượng và bảo đảm sức khỏe cho nhân viên trong những ngày nắng nóng... Đó là những tín hiệu tích cực đầu tiên ở Việt Nam.


Những thiên tai bất thường gây ra hậu quả nặng nề xảy ra gần đây cho thấy biến đổi khí hậu đang đặt ra cho Việt Nam rất nhiều thách thức cần phải giải quyết. Đây là trách nhiệm mà doanh nghiệp phải gánh vác cho một xã hội phát triển bền vững.
Không chỉ các nhà lãnh đạo mà mỗi doanh nghiệp cần thay đổi tư duy quản trị, sản xuất, xây dựng... để hướng đến một “nền tảng xanh” cho tương lai.
Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, ngành xây dựng trên thế giới tiêu thụ 17% lượng nước ngọt, 25% lượng gỗ khai thác, sử dụng 30 - 40% năng lượng trong tổng năng lượng sử dụng, sử dụng 40 - 50% nguyên vật liệu thô, chiếm 33% tổng lượng phát thải CO2 toàn thế giới.
Điều này cho thấy, để giảm thiểu biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, ngành xây dựng đóng vai trò có tính quyết định. Trong đó lĩnh vực nhà ở là đối tượng quan trọng nhất để giảm khí thải nhà kính gây nên biến đổi khí hậu.
Theo báo cáo của cơ quan phân tích rủi ro Maplecroft, Việt Nam là nước trong nhóm “next eleven” - những quốc gia có tiềm năng trở thành những nền kinh tế có trọng lượng của kinh tế thế giới, đang đứng trước những rủi ro tột cùng từ việc thay đổi khí hậu.
Mặt khác, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, nếu nước biển dâng cao 1m thì Việt Nam có thể mất 40.000km2 đất canh tác do bị ngập hoặc nhiễm mặn, 20 triệu người dân sẽ bị ảnh hưởng do đất canh tác và đất ở bị thu hẹp, thiếu nguồn nước và năng suất nông nghiệp giảm.
Theo đánh giá, Việt Nam sẽ là quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Biến đổi khí hậu đang đặt ra cho Việt Nam rất nhiều thách thức cần phải giải quyết.
Xây dựng đô thị và tốc độ đô thị hóa đã và đang nảy sinh hàng loạt các vấn đề như: hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị, đặc biệt là các công trình hạ tầng giao thông, cấp thoát nước và xử lý nước thải, rác thải bị quá tải do mật độ dân cư gia tăng; môi trường đô thị có những diễn biến theo chiều hướng bất lợi, ảnh hưởng đến đời sống người dân.
Cao ốc ngày càng mọc lên như nấm, đô thị ngày càng được mở rộng và lượng di cư của người dân đến các đô thị ngày càng cao kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của biến đổi khí hậu.
Đây là một trong những trách nhiệm mà doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng, cũng như hầu hết các doanh nghiệp trong lĩnh vực khác, phải gánh vác và chịu trách nhiệm.
Có nhiều cách để thực hiện trách nhiệm này, như nghiên cứu, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường, tiết kiệm tài nguyên; các giải pháp quy hoạch - kiến trúc đô thị, áp dụng các thiết bị kỹ thuật công trình có hiệu suất cao nhằm tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, giảm thiểu khí gây hiệu ứng nhà kính; các giải pháp công nghệ thích hợp xử lý chất thải đô thị...
Thực tế, nhiều nước đều đang nghiên cứu để đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể của kiến trúc xanh như hệ thống chuẩn ISO/TS 21931:200, hệ thống đánh giá công trình xanh LOTUS, hệ thống LEED...
Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam trước khi xây dựng một tòa nhà, công xưởng cũng nên quan tâm đến các hệ thống tiêu chuẩn này, chung tay tạo dựng một môi trường sống thân thiện với thiên nhiên; sử dụng hiệu quả năng lượng tiết kiệm chi phí...
Một số dự án xanh đã được thí điểm tại Việt Nam như tòa nhà của Liên Hiệp Quốc là dự án đầu tiên đạt tiêu chuẩn LOTUS, dự án tòa nhà Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, tòa nhà Trường Sơn (Tp. HCM)...
Một cao ốc theo xu hướng xanh khác ở TP. HCM là Vincom Center sử dụng kính Low-E, giúp các văn phòng giảm được chi phí vận hành điều hòa nhiệt độ, chống lãng phí năng lượng và bảo đảm sức khỏe cho nhân viên trong những ngày nắng nóng... Đó là những tín hiệu tích cực đầu tiên ở Việt Nam.
Tôi tin rằng việc chuẩn bị của một Kế hoạch hành động về khí hậu (CAP) ngày hôm nay sẽ cho phép một thành phố hay một khu vực có thể thiết lập các giai đoạn và giúp xác định bền vững cũng như một chiến lược tổng thể trong các năm tới. Bây giờ là thời điểm để được một nhà lãnh đạo, chứ không phải là một người dân thường, ra quyết định hưởng ứng.

Từ chuyện từ người thợ mỏ Chile


Dù thế nào đi nữa, mới thấy các nhà lãnh đạo không thể thiếu cái tâm trong việc lãnh đạo đất nước, cũng như các nhà quản trị không thể thiếu cái tâm trong việc lãnh đạo doanh nghiệp của mình.

Trong bối cảnh thế giới đang ngày một “phẳng” hơn, truyền thông là một công cụ quan trọng của các nhà lãnh đạo chứ không phải là của riêng các nhân viên truyền thông, tiếp thị.
Chim phượng hoàng khi già sẽ tự bốc cháy, để lại một nắm tro tàn rồi từ trong đống tro ấy, nó sẽ hồi sinh trong một cơ thể mới non trẻ. Khả năng hồi sinh từ nắm tro tàn khiến loài phượng hoàng trở nên bất tử. Đó là một tư tưởng trong bộ truyện pháp thuật nổi tiếng Harry Potter của nữ văn sĩ J. K. Rowling.
Ước tính đã có 325 triệu bản sách đã được bán ra, được cả thế giới hoan nghênh. Harry Potter còn được xuất hiện trong phim ảnh, các trò chơi và các hàng hóa tiêu dùng. Sự thành công của tác phẩm đã khiến Rowling trở thành một trong các nhà văn giàu nhất trong lịch sử sáng tác văn học.
Tương tự với hình ảnh này, sự kiện 33 thợ mỏ Chile lần lượt trở lại thế giới một cách thần kỳ từ lòng đất trong chiếc khoang cứu hộ Phoenix (Phượng hoàng) đã làm xúc động cả thế giới trong những ngày qua. Sự kiện này cũng được xem là mốc son trong sự nghiệp
lãnh đạo của Tổng thống Sebastian Pinera của đất nước Chile.
Hàng loạt các sự kiện ăn theo xuất hiện làm giàu thêm thông tin trên các phương tiện truyền thông: hai thành phố ở Chile vẫn đang tranh nhau quyền được lưu trữ khoang Phoenix đã đưa các thợ mỏ lên khỏi mặt đất; một thợ mỏ nhận được lời mời thăm biệt thự của Elvis Presley; rồi đến lượt các câu lạc bộ bóng đá Real Madrid và Manchester United mời các thợ mỏ sang châu Âu xem họ thi đấu; riêng Apple tặng mỗi thợ mỏ một chiếc iPod…
Đó là chưa kể các buổi tiệc ăn mừng và xuống đường chung vui diễn ra khắp cả nước Chile… Đằng sau sự kiện là sự quảng bá của các thương hiệu, mà theo một cách nhân văn và đầy tính cộng đồng.
Bên cạnh đó không thể thiếu hình ảnh của các nhà lãnh đạo: lãnh đạo các nước, các tổ chức đua nhau gửi thông điệp chúc mừng đến Chile. Tổng thống Evo Morales của Bolivia có mặt tại nơi đón công dân của mình trở lại với mặt đất…
Đặc biệt nhất là hình ảnh tận tụy của Tổng thống Sebastian Pinera - một tỉ phú và cũng là một “tay tổ” của ngành truyền thông - ông chủ của mạng lưới truyền hình Chilevison.
Trong suốt quá trình giải cứu các thợ mỏ, hầu như ông luôn túc trực tại hiện trường và điều này là động lực lớn trong việc cổ vũ tinh thần cho mọi người.
Sau sự kiện này, uy tín lãnh đạo của ông cũng đã gia tăng đáng kể và hình ảnh đất nước Chile cũng trở nên thân thiện hơn, được ủng hộ nhiều hơn trên trường quốc tế.
Với những tai nạn lao động tương tự, hầu như không có nhà lãnh đạo nào thể hiện tốt được và được lợi (về uy tín) nhiều như ông Sebastia Pinera. Có ý kiến cho rằng nếu không có tâm huyết của ông thì 33 thợ mỏ ở San Jose khó lòng trở lại mặt đất.
Chiếc khoang Phượng hoàng đã không chỉ đưa họ trở lên mặt đất, mà còn đưa cả hình ảnh đất nước Chile nhỏ bé trở nên nổi bật hơn trong con mắt người dân toàn thế giới. Đúng như lời ông Sebastian Pinera nói: “Chile mạnh hơn, đoàn kết hơn qua sự kiện này”.
Còn bản thân ông, lại có cơ hội trở thành một nhà lãnh đạo có tầm vóc quốc tế như nhiều người đã dự đoán. Một sự kiện sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu không được tận dụng đúng.
Và khi giới truyền thông đang khép lại hình ảnh Chile thì ông Sebastian Pinera lại một lần nữa vực nó dậy bằng món quà trao tặng nữ hoàng Anh: viên đá lấy từ mỏ San Jose.
Vì thế, những hiểu biết về truyền thông không chỉ dành cho những nhân viên của bộ phận truyền thông, cũng như hiểu biết về tài chính không chỉ dành cho nhân viên phòng kế toán.
Các giới chủ, nhà quản trị doanh nghiệp cũng như mọi nhân viên trong doanh nghiệp đều cần biết về điều này để qua đó có thể xây dựng được thương hiệu nhân sự và thương hiệu doanh nghiệp.
Dù thế nào đi nữa, mới thấy các nhà lãnh đạo không thể thiếu cái tâm trong việc lãnh đạo đất nước, cũng như các nhà quản trị không thể thiếu cái tâm trong việc lãnh đạo doanh nghiệp của mình.
Trong thời đại thế giới đang “phẳng” này, hình ảnh tổ chức không chỉ đến với công chúng bằng những mẫu quảng cáo được trả bằng tiền, mà còn qua nhiều cách khác thú vị hơn, ấn tượng hơn, hiệu quả hơn.

Thủa ban đầu của các thương hiệu có danh tiếng

Trước khi trở nên nổi tiếng với sản phẩm máy kéo như bây giờ, John Deere là một thợ rèn. Theo lịch sử công ty, năm 1837, Deere tạo ra loại lưỡi cày làm từ thép để giúp các nông dân tạo ra các luống cày trên nền đất dẻo của thảo nguyên. Vào năm 1938, anh bắt đầu sản xuất và bán chúng.


Bạn có biết Nokia từng sản xuất ủng cao su hay Gucci ? Từ Nokia, Sony, IBM cho đến Gucci, Ferrrari đều trải qua giai đoạn đầu gian khó trước khi trở thành những tên tuổi được nhiều người ngưỡng mộ.
1. Nokia
Nhãn hiệu điện thoại di động nổi tiếng Phần Lan từng đi sản xuất ủng cao su.
Nhắc đến Nokia, chắc hẳn ai cũng nghĩ đến điện thoại di động, thế nhưng, bạn hẳn sẽ rất ngạc nhiên khi biết Nokia ban đầu chỉ là một công ty sản xuất bột giấy ở miền bắc Phần Lan. Sau đó, năm 1898, Nokia lại chuyển sang ngành công nghiệp cao su, và thậm chí làm cả ủng cao su nữa. Mãi cho đến tận năm 1968, họ mới gia nhập thị trường di động.
2. Abercrombie & Fitch
Hãng bán lẻ thời trang dành cho thanh thiếu niên Mỹ thường gây sốc bằng những hoạt động marketing đầy tranh cãi.
Bất kỳ cửa hàng nào của A&F cũng được trang trí bằng người mẫu thật, rực rỡ với ánh đèn mờ ảo và tiếng nhạc vô cùng lớn (nhạc ở đây được vặn to đến 90 decibel). Nhà bán lẻ quần áo cho thanh thiếu niên Mỹ này nổi tiếng với những hoạt động marketing đầy tranh cãi (người mẫu teen bán nuy) và những câu slogan trên áo rất hớ hênh (“tất cả người dân Tây Virginia đều là họ hàng của nhau” – ám chỉ sự loạn luân).
Tuy nhiên, khi mới thành lập năm 1892, A&F khác xa so với bây giờ. Khách hàng mà họ nhắm đến là những người thợ săn, người đi câu và người thích các hoạt động mạo hiểm. Và do vậy, các gian hàng của họ cũng chỉ toàn lều, cần câu và dụng cụ đi săn thay vì các bộ quần áo thời thượng như hiện nay.
3. Nintendo
Nintendo từng sản xuất quân bài từ vỏ cây dâu tằm.
Công ty đa quốc gia này có trụ sở tại Nhật Bản, và cũng như Nokia hay Abercrombie & Fitch, Nintendo ban đầu không phải là một công ty trò chơi. Trước khi đến với Wii và Super Mario Bros., Nintendo sản xuất các bộ bài. Nintendo Koppai thành lập năm 1889 và sản xuất bài từ vỏ cây dâu tằm và từng có thời điểm, họ thống trị cả thị trường. Nintendo cũng từng thất bại trong hàng loạt các lĩnh vực như taxi, đồ ăn và khách sạn trước khi thành công với việc sản xuất trò chơi vào những năm 1980.
4. Gucci
Gucci khởi nghiệp chỉ là một cửa hàng bán yên ngựa.
Ngày nay, Gucci có lẽ rất nổi tiếng về các sản phẩm túi xách cao cấp, tuy nhiên năm 1921, nó chỉ là một cửa hàng gia đình bán yên ngựa ở Florence, Italia. Họ chỉ tập trung vào các đồ da cho những người cưỡi ngựa như: Yên, ủng, găng tay và túi yên.
5. Hasbro
Hasbro khởi nghiệp bằng việc làm vỏ cho các hộp đựng bút chì.
Năm 1926, ba anh em Henry, Hilal và Herman Hassenfeld bắt đầu làm vỏ cho các hộp đựng bút chì và sản phẩm này rất được ưa chuộng vào thời kì ấy. Sau đó, họ đã thành lập công ty Hassenfeld Brothers. Trong cuộc Đại suy thoái, họ đạt doanh thu hàng năm là 500.000 USD cho việc bán hộp bút chì và túi vải có khóa chứa các dụng cụ học tập. Năm 1935, họ bắt đầu làm cả bút chì và mãi đến cuối những năm 1930 mới sản xuất đồ chơi – lúc đó cũng chỉ là một nhánh mở rộng của bộ phận làm dụng cụ học tập. Hai loại đồ chơi được ra mắt đầu tiên là sáp nặn và bộ dụng cụ bác sĩ.
6. Ferrari
Người sáng lập Ferrari từng là tay đua ôtô chuyên nghiệp.
Vào năm lên 10, Enzo Ferrari đã có niềm đam mê đua xe. Và ở tuổi 20, ông đã trở thành người lái xe thử nghiệm cho một công ty sản xuất xe nhỏ. Không lâu sau đó, ông trở thành tay đua ôtô chuyên nghiệp. Vào năm 1929, ông thành lập đội đua Scuderia Ferrari. Nhưng mãi cho đến tận cuối những năm 1945, Enzo mới bắt đầu thiết kế chiếc xe thể thao Ferrari đầu tiên.
7. Tiffany
Tiffany từng khởi nghiệp là một công ty bán đồ văn phòng phẩm bình thường.
Tiffany là một công ty bán đồ trang sức và đồ bạc nổi tiếng ở Mỹ, biểu tượng của họ chính là chiếc hộp màu xanh ngọc bích. Tuy nhiên, ban đầu, Tiffany chỉ là một công ty bán đồ văn phòng phẩm.
8. Corning
Corning từng đi sản xuất bóng đèn trước khi làm ra những sản phẩm cao cấp khác.
Corning là công ty hàng đầu trong lĩnh vực làm đồ thủy tinh và đồ gốm. Họ tập trung vào các ứng dụng cao cấp như sản phẩm Gorilla Glass cho màn hình LCD và màn hình máy tính cũng như các thiết bị phần cứng viễn thông cho Internet và điện thoại. Tuy nhiên, trước khi làm các cửa sổ chống nhiệt cho tàu vũ trụ, họ đã từng làm một thứ ngược đời hơn: đó là bóng đèn. Thực ra, năm 1879, chính Thomas Edison đã đề nghị Corning sản xuất “khí cầu thủy tinh” cho phát minh mới của ông.
9. DuPont
Sản phẩm khởi nghiệp của DuPont là thuốc nổ.
DuPont là một công ty hóa chất của Mỹ. Các phát minh nổi tiếng của họ bao gồm cao su tổng hợp, nylon, Corian, Teflon, Mylar, Kevlar và Lycra. Tuy nhiên, trước khi công ty này được thành lập vào năm 1802, họ chỉ tập trung vào một sản phẩm duy nhất: thuốc nổ. E.I du Pont mở nhà máy sản xuất bột thuốc súng đầu tiên tại Wilmington, Delaware. Vào giữa thế kỉ 19, họ chính là nhà cung cấp bột thuốc súng lớn nhất cho quân đội Mỹ.
10. IBM
IBM từng sản xuất máy thái thịt tự động, máy xay cafe.
Chắc hẳn khi nói đến IBM, người ta sẽ nghĩ ngay đến máy tính chứ không phải là những máy thái thịt tự động, máy xay cà phê hay đồng hồ chấm công. Nhưng trước khi trở thành IBM nổi tiếng với những phần mềm và phần cứng máy tính như bây giờ, họ đã giúp cho ngành công nghiệp trở nên năng suất hơn rất nhiều với các loại máy móc kể trên.
11. John Deere
John Deere từng làm lưỡi cày cho nông dân.
Trước khi trở nên nổi tiếng với sản phẩm máy kéo như bây giờ, John Deere là một thợ rèn. Theo lịch sử công ty, năm 1837, Deere tạo ra loại lưỡi cày làm từ thép để giúp các nông dân tạo ra các luống cày trên nền đất dẻo của thảo nguyên. Vào năm 1938, anh bắt đầu sản xuất và bán chúng.
12. Sony
Sony được thành lập năm 1946.
Tập đoàn Điện tử Viễn thông Tokyo được thành lập vào năm 1946 bởi Akio Morita và Masura Ibuka. Hai người này đã hợp tác với nhau mở một cửa hàng sửa chữa radio, và đến năm 1958, họ đổi tên công ty thành Sony. Đây là công ty đầu tiên buôn bán thành công các transitor cho radio. Và ngày nay, họ làm mọi thứ, từ PlayStation cho đến camera cầm tay và e-Reader.

“Sức mạnh mềm” của hãng Nokia


Với riêng tôi, lúc nào cũng muốn có sự đổi mới, lúc nào cũng hành động để có sự mới mẻ, làm việc trên 200% so với công suất bình thường mới cảm hứng, nếu không sẽ rất nhàm chán. Và lúc nào cũng phải đam mê. Điều tôi tâm đắc khi đến một đất nước mới là mang đến những giá trị mới, để lại một tổ chức đạt được sự hoàn hảo và có thêm nhiều người bạn mới.

LTS: Giá trị của nhãn hiệu Nokia là tổng hòa giá trị của từng sản phẩm bán ra ở mỗi thị trường, nỗ lực của từng nhân viên trên khắp thế giới. Đây là chia sẻ về bí quyết kỹ trị Nokia của ông William Hamilton Whyte, Tổng giám đốc Nokia Đông Dương, người mới tới Việt Nam nhận nhiệm vụ mới.
Đồng nhất trong toàn cầu hóa
“Sức mạnh mềm” của Nokia nằm ở đội ngũ những nhân viên trẻ có truyền thống học thuật xuất sắc, tận tâm, sẵn sàng học hỏi và tiến bộ rất nhanh. Với khẩu hiệu “Phù hợp với địa phương, xuất sắc toàn cầu”, Nokia đã phát huy di sản và những tập quán tốt của mạng lưới nghiên cứu toàn cầu bằng một đội ngũ đa văn hóa đến từ nhiều nước.
Những kinh nghiệm về quản trị, để có thể bảo đảm “chất lượng toàn cầu” cho một thương hiệu tại các thị trường địa phương, cả về con người và sản phẩm, là bài học khá bổ ích đối với các tổng giám đốc (CEO).
Nokia có nhà máy trên khắp thế giới với một một mạng lưới toàn cầu gồm tám trung tâm thử nghiệm. Tất cả đều làm việc theo một chuẩn chung của quốc tế về chất lượng, từ quy trình sản xuất, vận hành, hình ảnh nhà máy đến các thử nghiệm. Tất cả các nguyên liệu đầu vào, đầu ra đều vận hành theo một quy trình thống nhất.
Ví dụ: nhà máy Nokia ở Bắc Kinh kết nối với hệ thống 20 đối tác kênh cung cấp gồm các nhà máy cung cấp thiết bị phụ trợ, nhà phân phối, nhà vận chuyển... tạo thành một thể liên hoàn chặt chẽ, giúp tiết kiệm tối đa chi phí vận chuyển, giảm khí CO2, giảm sử dụng các vật liệu bao bì đóng gói...
Các nhân viên đi làm đều tuân thủ nghiêm ngặt quy chuẩn về tác phong, ăn mặc, cách thức làm việc, để tránh những sự cố ảnh hưởng đến quy trình sản xuất. Mỗi nhân viên ở nhà máy, từ cấp quản lý đến công nhân đều có bản mô tả công việc kỹ lưỡng và phải tuân thủ những gì đã thỏa thuận.
Mỗi nhân viên: 200% giá trị tăng trưởng
Về chiến lược quản trị con người, nếu chia số doanh thu toàn cầu cho 37 ngàn nhân viên của Nokia, mỗi người tạo ra gần 200% giá trị tăng trưởng, có thể thấy tính hiệu quả của từng nhân viên là rất lớn, nên ai cũng quan trọng. Có được điều đó chính là nhờ chiến lược xuyên suốt của Nokia với một chuỗi hệ thống giá trị về hòa nhập, đam mê, sáng tạo, nhân bản, cùng nhau tiến bộ, vươn lên.
Nokia luôn tạo cho mỗi cá nhân có thể phát huy tốt nhất trong khả năng của mình, đặc biệt là khả năng giữ nhân tài ở những vị trí chủ chốt của công ty. Chúng tôi có một hệ thống quản trị để luôn biết được ở những bộ phận nào có những con người lúc nào cũng làm vượt trội hơn hẳn so với bản mô tả công việc và cam kết. Và khi biết người nào quan trọng, có khả năng, chúng tôi sẽ tạo cơ hội để họ được tự do phát triển một cách tốt nhất.
Nokia hiện diện ở 78 quốc gia, mỗi quốc gia có một hệ thống chính trị, văn hóa khác nhau. Chiến lược chung toàn cầu khi triển khai cần có sự phối hợp với thế mạnh từng địa phương. Nếu đến nhà máy ở Phần Lan, bạn sẽ thấy 80% dân số thị trấn này làm việc cho Nokia, nó giống như một thị trấn - công ty gia đình. Việc quản trị con người ở đây đặc biệt cẩn trọng, có sự quan tâm chu đáo đến từng thành viên. Nhưng với những nước ở châu Á, văn hóa sẽ khác đi. Người Hoa và người Việt có một đặc tính giống nhau là hoài bão vươn lên trong cuộc sống.
Cho dù khi mới được tuyển chọn vào Nokia, xuất phát điểm của họ rất thấp, nhưng nhiều người vẫn đi học để sau này có thể vươn lên những vị trí cao hơn như kỹ sư, quản lý. Vì vậy trong quản trị, Nokia luôn dõi theo mỗi bước tiến của từng người, để bảo đảm có những vị trí phù hợp với sự phấn đấu của họ. Chính sách đối xử với nhân tài được coi trọng, để có thể giữ chân được họ làm việc lâu dài cho Nokia.
Cách quản trị theo mặt phẳng, với các CEO, họ có quyền tự do trong việc tuyển chọn nhân sự vào các vị trí, tự do hoạch định chiến lược cho thị trường của mình một cách tốt nhất. Nhìn vào các CEO vùng, có thể thấy được đội ngũ bên dưới, những đường hướng lãnh đạo.
Chúng tôi thường xuyên tổ chức các khóa học, nhằm kết hợp điểm mạnh của những nền văn hóa khác nhau, để xây dựng tinh thần đồng đội, giúp cho mọi người hiểu nhau hơn và cùng nhau đạt được mục tiêu, tầm nhìn của công ty. Tất cả những yếu tốt này góp phần tạo nên sự năng động, sáng tạo, nhuệ khí tích cực cho tổ chức.
Luôn di chuyển
Chế độ luân chuyển nhân sự cao cấp, chế độ nhiệm kỳ cũng là bí quyết giúp cho Nokia thoát khỏi sự bảo thủ, trì trệ. Không phải ai cũng có khả năng luân chuyển công việc trên nhiều thị trường khác nhau. Nó đòi hỏi một tính cách, sự đam mê, khả năng hòa nhập trong những môi trường khác nhau.
Với nhiệm kỳ ba năm, chuyển từ thị trường này sang thị trường khác, đòi hỏi các CEO phải học cách hiểu biết nhiều thị trường, hiểu biết nhanh nhân viên. Đó là một thách thức lớn và để vượt qua thách thức này, khi qua một thị trường mới, tôi thường giữ lại, học hỏi một cách tốt nhất cách quản lý vận hành của người tiền nhiệm, từ đó có cách tiếp cận chiến lược của mình để làm sao tăng giá trị vốn có sẵn, để điều hành hiệu quả.
Chế độ nhiệm kỳ và luân chuyển cán bộ áp dụng với tất cả mọi người, mọi vị trí, vì khẩu hiệu của Nokia là “Làm cho mình luôn di chuyển”. Chuyển thị trường, chuyển vị trí, chuyển công việc... cũng là cách để mọi thứ đều mới mẻ, nhưng nó phải xuất phát từ sự chọn lựa cá nhân, chứ ai bị ép. Chọn bến đỗ tiếp theo ở đâu là do chính mỗi người, để hình thành nên đường hướng phát triển cá nhân.
Với riêng tôi, lúc nào cũng muốn có sự đổi mới, lúc nào cũng hành động để có sự mới mẻ, làm việc trên 200% so với công suất bình thường mới cảm hứng, nếu không sẽ rất nhàm chán. Và lúc nào cũng phải đam mê. Điều tôi tâm đắc khi đến một đất nước mới là mang đến những giá trị mới, để lại một tổ chức đạt được sự hoàn hảo và có thêm nhiều người bạn mới.
Suốt 14 năm làm việc tại Nokia, trong nhiều môi trường khác nhau, bí quyết giúp tôi học hỏi được nhiều nhất, làm việc tốt hơn là biết lắng nghe, bất kể họ là ai trong tổ chức, giàu hay nghèo... vì chúng ta đều là những con người. Nokia là một công ty châu Âu luôn đề cao vai trò con người, những giá trị nhân bản. Khi bạn làm việc bằng cả trái tim, bạn sẽ đạt được điều mong muốn. 

Cách thu hút khách hàng qua mạng XH


Bài học mà Four Seasons đúc kết lại sau quá trình làm việc trên mạng XH là: “Chịu trách nhiệm và chuẩn bị trước nếu có bất trắc nào xảy ra và nỗ lực bảo vệ tên tuổi thương hiệu”.

Mạng XH phát triển ngày càng rộng tại châu Á. Làm thế nào công nghiệp khách sạn, cũng như những ngành dịch vụ khác, dùng các phương tiện kết nối đa dạng toàn cầu đó để tiếp cận, chăm sóc và mời gọi thêm khách hàng…
Sean Seah, giám đốc thương mại điện tử của khách sạn Langham Hotels International
Khách sạn URBN Hotels Shanghai phát tán e-mail: “URBN Hotels Shanghai đã có mặt trên Twitter!”. Mục tiêu của họ là gắn kết ngày càng chặt với khách hàng và thu hút thêm khách hàng tiềm năng, đồng thời, quảng bá thương hiệu.

Bằng cách gia nhập Facebook, Twitter, họ quyết tâm tiến thêm một bước để hoàn hảo hóa dịch vụ chăm sóc khách hàng.
Sean Seah, giám đốc thương mại điện tử của khách sạn Langham Hotels International cho biết: “Chúng tôi giới thiệu thông tin khách sạn lên những trang mạng XH, rồi đón nhận phản hồi trực tiếp từ khách hàng và lập kế hoạch cải thiện phong cách phục vụ để làm hài lòng các thượng đế”.

Trực tuyến là thế giới của danh tiếng và sự tín dụng. Vậy nên, nhằm tránh những sai phạm dẫn đến hủy hoại thương hiệu, doanh nghiệp phải năng động thảo luận và phản ứng tức thời.
Angela Wong thuộc khách sạn Four Seasons Hotel Hồng Kông tuyên bố mục tiêu trên mạng XH của họ là: “Tăng độ nhận biết thương hiệu của khách hàng, rồi nhờ công cụ tiếp thị truyền miệng để liên kết trực tiếp với khách hàng”… Để thực hiện mục tiêu đó, Four seasons đang phát triển thêm hơn 38.000 fan hâm mộ trên Facebook và 13.000 người theo dõi trên Twitter.
Mạng XH giúp các khách sạn kết nối gần gũi và nhận phản hồi, phê bình, khen ngợi của khách hàng trực tiếp hơn những website thông thường. Trên mạng XH, Four Seasons thường xuyên có những bài viết ngắn, hình ảnh, video, miêu tả các câu chuyện tại địa phương, nhà hàng, spa, về những gì đang diễn ra trong khách sạn… Những thông tin quảng cáo đó nhận được nhiều phản hồi từ khách hàng và kết quả đem đến nhiều đơn đặt phòng.
Những khách sạn lớn cần chú ý đến khách hàng trong khu vực mình. Và những khách sạn nhỏ thì càng phải tập trung kết nối với cộng đồng địa phương. Từ gần mới dần mở rộng ra xa.
Chiến lược thu hút khách hàng địa phương không chỉ dừng lại ở chỗ phát tờ rơi bảng báo giá phòng. Ví dụ như khách sạn URBN tại Thượng Hải: tạo trang thông tin trên Facebook, Twitter, Youtube và Kai Xin. Kai Xin chỉ là trang mạng XH địa phương, nhưng lại đem về nhiều fan hâm mộ cho URBN hơn 3 trang nổi tiếng thế giới trên cộng lại. Giám đốc tiếp thị của khách sạn, Victoria Hajjar, còn thuê quản lý PR người TQ để giúp khách sạn thu hút thêm nhiều khách từ Trung Hoa đại lục.

Dù mới hòa vào dòng chảy mạng XH, nhưng khách URBN cũng di chuyển nhanh và suy nghĩ nhiều đến lợi ích mà tiếp thị trên mạng XH đem lại so với tiếp thị truyền thống. Hajjar cho biết: “Hàng ngày, chúng tôi đều suy tính hoạt động tiếp thị trên mạng XH. Việc thực thi chiến lược tiếp thị trên mạng XH quả thật dễ dàng và tốn ít thời gian hơn những công cụ truyền thống”.

Trong tiếp thị truyền thống, khách sạn bỏ tiền ra mua vị trí quảng cáo, rồi kiểm tra số liệu xem hiệu quả đầu tư cho quảng cáo đó có hợp lý và thích đáng. Còn khi tiếp thị mạng XH, khách sạn phải đo lường sức ảnh hưởng, xem thành viên viên trên mạng XH có kháo nhau về mình với bạn bè, đồng nghiệp? Xem cộng đồng mạng có tin tưởng và quan tâm đến thông tin khách sạn mình đưa lên?
Dù khách sạn, nhà hàng là ngành truyền thống, nhưng để phát triển trong thời đại mới thì cần nhiều kỹ thuật hiện đại.
Angela Wong thuộc khách sạn Four Seasons Hotel Hồng Kông
Khách sạn Langham tìm đến những tay viết bog trên mạng, đối đãi với họ tận tâm như với những phóng viên báo giấy dày dặn kinh nghiệp, mời họ đến dự các sự kiện trong khách sạn để gây sự tín nhiệm trong cộng đồng blog. Và các blogger tạo khác biệt lớn. Khách sạn Langham đếm số người truy cập blog, theo dõi bài viết và phản hồi của người đọc, đồng thời, đếm số khách đăng ký phòng khách sạn sau bài viết xuất hiện trên blog. Kết quả là anh Seah ngợi khen: “Có thể đo lường và vì thế vô cùng ngưỡng mộ ảnh hưởng của những người viết blog. Lợi ích tích cực của thế giới mạng là ta có thể ngay lập tức thu hút đông đảo fan hâm mộ cuồng nhiệt”.
Tiếp cận cộng đồng và thể hiện được rằng mình quan tâm đến họ là cách tốt nhất để gây dựng lòng tin khách hàng và tạo thêm nhiều fan hâm mộ.
Facebook hay Twitter, trang mạng XH nào tốt nhất cho các khách sạn? Câu trả lời an toàn của khách sạn Four Seasons là: “Cả hai đều là kênh tiếp thị tốt để giúp khách sạn chúng tôi tiếp cận khách hàng”.
Nhưng, sự thật thì kênh truyền thông tốt nhất là kênh thu hút đông đảo khách hàng mục tiêu đến tham quan và sử dụng. Facebook và Twitter có thể là xịn nhất Hoa Kỳ, nhưng tại TQ thì các trang đó bị cấm. Tại Nhật Bản thì MiXi nổi tiếng hơn Facebook…
Những khách sạn xác định được trang mạng XH nào hoạt động tốt nhất trong thị trường mình muốn chinh phục thì có nhiều cơ hội thành công lâu dài.
Bài học mà Four Seasons đúc kết lại sau quá trình làm việc trên mạng XH là: “Chịu trách nhiệm và chuẩn bị trước nếu có bất trắc nào xảy ra và nỗ lực bảo vệ tên tuổi thương hiệu”.
Còn đối với URBN thì bài học xương máu là: “Tương tác thành thật với từng khách hàng tiềm năng đang bộc lộ hứng thú với doanh nghiệp của bạn”.

Quảng cáo trong game trên trang mạng xã hội

Chỉ trong hai tuần đầu tiên ra mắt, game đã thu hút 3,1 triệu người chơi. Phó giám đốc Quảng cáo của Honda Steve Center ngợi khen: “Mỗi ngày có khoảng 200.000 người chạy trên xa lộ ở Los Angeles. Nhưng bảng quảng cáo đặt hai bên đường không thu hút sự chú ý của nhiều người bằng quảng cáo trên Car Town...


Mạng xã hội (MXH) là nhân tố chiến lược của tiếp thị thời đại mới. Và quảng cáo trong game trên MXH là cách tốt nhất để tiếp cận khách hàng.
Trò chơi điện tử trên MXH phát triển mạnh mẽ và rầm rộ. Theo khảo sát mới nhất của NDP Group, 20% người Mỹ trưởng thành từng chơi game trên MXH; 38% game thủ MXH là những người lần đầu chơi game. EMarketer dự đoán: quảng cáo trong game trên MXH sẽ đạt 293 triệu USD năm 2011, tăng 60% trong hai năm.
Quảng cáo trực tuyến sẽ chiếm 17,1% chi phí tiếp thị năm 2012, tăng so với 12,7% năm 2009. Kế hoạch quảng cáo trên Facebook năm 2010 làm choáng váng mọi người với con số 1,28 tỷ USD...
Khuynh hướng này càng được khẳng định khi ông trùm tìm kiếm trực tuyến Google vừa mua công ty thiết kế game và Ứng dụng Slide và Jambool Inc. Tháng Bảy, Walt Disney đã thâu phục nhà thiết kế game lớn thứ hai trên Facebook là Playdom với giá 563 triệu USD. Trước đó, tháng 11/2009, Electronic Arts đã bỏ ra 400 triệu USD mua Playfish.
Theo Bloomberg, Zynga, đơn vị thiết kế game hàng đầu Facebook (nổi tiếng với game Farmville, Texas HoldEm Poker và Mafia Wars Game), đang thương thảo quảng cáo cho nhiều tập đoàn lớn. Ví dụ điển hình là Honda quảng cáo xe CR-Z trong game Car Town trên Facebook... Car Town là trò chơi điện tử tối ưu hóa và sưu tập xe hơi.
Chỉ trong hai tuần đầu tiên ra mắt, game đã thu hút 3,1 triệu người chơi. Phó giám đốc Quảng cáo của Honda Steve Center ngợi khen: “Mỗi ngày có khoảng 200.000 người chạy trên xa lộ ở Los Angeles. Nhưng bảng quảng cáo đặt hai bên đường không thu hút sự chú ý của nhiều người bằng quảng cáo trên Car Town...
Các chuyên gia tiếp thị và nhà thiết kế game đã sớm nhận ra họ đang nắm trong tay kênh quảng cáo đầy quyền lực có nhiều mảnh đất trống giàu tiềm năng”... Đơn vị thực hiện quảng cáo PRA giới thiệu CR-Z “có mọi thứ của một chiếc xe hybrid có và không có”, “là chỉnh thể hoàn hảo kết hợp dáng dấp thể thao và bộ máy hybrid”. CR-Z trên Car Town - Facebook là “một chiếc xe hybrid cách tân được quảng cáo trên trang mạng hybrid và cách tân”.

Làm sao thấu hiểu người tiêu dùng


Họ sẽ không bao giờ sử dụng nữa nếu không hài lòng về sản phẩm. Thậm chí, họ còn thông tin ngay đến người thân, bạn bè để cùng nhau tẩy chay thương hiệu đó.

Bài học mà các chủ doanh nghiệp (DN) đều thuộc nằm lòng là nếu hiểu người tiêu dùng, nắm được tâm lý tiêu dùng thì chắc chắn sẽ thành công. Thế nhưng, làm thế nào để hiểu được người tiêu dùng, tung ra sản phẩm đúng yêu cầu người tiêu dùng không phải là câu hỏi dễ trả lời.
Cần cái người dùng thích
Một thực tế được nhìn nhận là DN Việt Nam, dù đã có những tên tuổi xứng tầm thế giới, nhưng không phải DN nào cũng sản xuất ra sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu tiêu dùng. Nhiều DN lớn vẫn loay hoay tìm cách để “hiểu” người tiêu dùng. Thực tế này được khẳng định tại hội thảo “Thấu hiểu người tiêu dùng để kinh doanh thành công” do Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức mới đây.
Đại diện Công ty Dệt May Thành Công thừa nhận: “Lâu nay chúng tôi không biết làm thế nào để tạo ra một sản phẩm được gọi là có chất lượng cao trong mắt người tiêu dùng!”.
Còn bà Phạm Thị Việt Nga, Tổng giám đốc Công ty Dược Hậu Giang, cho biết bà gặp khá nhiều khó khăn trong việc định hướng tâm lý cho người tiêu dùng. “Tôi không hiểu vì sao nhiều người Việt lại thích hàng ngoại, trong khi hàng Việt Nam hiện nay có chất lượng không thua kém”, bà Nga nói.
GS. Tôn Thất Nguyễn Thiêm, Giám đốc chương trình đào tạo MBA của Viện Quản trị Kinh doanh Bruxen UBI (Bỉ) tại Việt Nam, phân tích, có hiện tượng này là do DN chỉ chú trọng đến chất lượng sản phẩm chứ chưa thấu hiểu người tiêu dùng. Có rất nhiều sản phẩm tốt được sản xuất, nhưng cách thức phục vụ, cách thức bán hàng cũng như đội ngũ nhân viên chưa “xứng tầm”, chưa cùng “đẳng cấp” với chất lượng đó.
Kết quả từ cuộc điều tra do báo Sài Gòn Tiếp Thị thực hiện cũng cho thấy, có rất nhiều DN lạm dụng hình ảnh chuyên gia để khuếch trương sản phẩm quá sự thật, hoặc cũng có những chuyên gia không làm đúng chức phận đã khiến người tiêu dùng không tin về chất lượng sản phẩm. Theo thống kê của chương trình, tư vấn của chuyên gia trong ngành chỉ đạt mức 3,1 điểm, bằng với tư vấn của người bán hàng.
Theo GS. Thiêm, một sản phẩm có chất lượng tốt nhưng người mua cảm nhận chất lượng dịch vụ đi kèm quá tệ, không xứng đáng thì sản phẩm đó cũng không được đánh giá cao.
Và hành vi tiêu dùng thực chất là mượn sản phẩm, dịch vụ mà mình đang sở hữu để nói về bản thân. “Vì thế, muốn bán được hàng, DN phải thấu hiểu người tiêu dùng. Mà đã hiểu người tiêu dùng thì DN không nên sản xuất ra cái DN thích, mà phải sản xuất đúng cái khách hàng cần”, GS. Thiêm nói thêm.
Thích cái người dùng cần
Các chuyên gia cho rằng, chất lượng sản phẩm hay các chứng chỉ về ISO chỉ là “giấy thông hành” để thâm nhập thị trường. Muốn sản phẩm được người tiêu dùng yêu thích còn cần thêm nhiều yếu tố khác, như: thân thiện với môi trường, đối xử công bằng với nhân công, đối xử tốt với khách hàng, tạo niềm tin cho khách hàng...
Vấn đề là DN hãy tạo cho người tiêu dùng niềm hãnh diện khi sử dụng sản phẩm. Muốn đạt được điều này, nhà sản xuất không nên quá chạy theo lợi nhuận mà bỏ mặc lợi ích của người mua.
Theo GS. Thiêm, người tiêu dùng ngày nay rất thông minh, họ không chỉ chọn những sản phẩm có chất lượng tốt (về bao bì, mẫu mã, chất lượng), mà còn chú ý đến các yếu tố như: sản phẩm khi sản xuất ra có gây hại cho môi trường hay không, có làm cạn kiệt tài nguyên môi trường hay không?...
Kết quả khảo sát của báo Sài Gòn Tiếp Thị cũng cho kết quả tương tự. Người có mức sống cao quan tâm hơn đến việc tìm kiếm các thông tin về mức độ an toàn vệ sinh, giá trị dinh dưỡng, hạn sử dụng của sản phẩm, còn người có mức sống thấp lại quan tâm hơn đến việc tìm thông tin về cách sử dụng, bảo quản sản phẩm, thông tin về giá cả sản phẩm.
Họ sẽ không bao giờ sử dụng nữa nếu không hài lòng về sản phẩm. Thậm chí, họ còn thông tin ngay đến người thân, bạn bè để cùng nhau tẩy chay thương hiệu đó.
Kết luận của các chuyên gia là người tiêu dùng kỳ vọng DN quan tâm đầu tư nhiều hơn cho chất lượng sản phẩm, phải có trách nhiệm với cộng đồng xã hội, trung thực với khách hàng cũng như minh bạch trong thông tin. Và tạo được niềm tin nơi người tiêu dùng đối với sản phẩm không chỉ giúp mở rộng thị phần, mà còn tạo được kênh tiếp thị truyền khẩu rất hữu hiệu nhưng lại ít tốn chi phí. 

Làm thế nào xây dựng thương hiệu B2B

Việc thành hay bại của thương hiệu có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng dù với lý do gì đi chăng nữa thì thương hiệu B2B luôn bị “để ý” và mặc nhiên chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với những thương hiệu B2C. Với B2C, nếu một sản phẩm không thành công, chúng ta có thể thay đổi sản phẩm khác.

Khác với thương hiệu hàng tiêu dùng, xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp - doanh nghiệp (B2B) chú trọng nhiều hơn tới yếu tố nội lực và văn hóa bền vững. Nếu ví như cuộc đua, thì làm thương hiệu B2B là cuộc đua đường trường, dai sức và bền bỉ...
Trong ngoài, ngoài trong
Trước hết, cần tách biệt hai phương pháp xây dựng thương hiệu B2B và B2C. Với B2C, phương pháp tiếp cận chiến lược hữu hiệu phổ biến là từ ngoài vào trong (outside-in approaches), thông qua sự thấu hiểu nhận thức tiềm ẩn (insight), hay thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng.
Chiến lược này sẽ ưu tiên phân bổ ngân sách cho truyền thông tiếp thị để thúc đẩy tăng trưởng thương hiệu và kinh doanh. Ngược lại, xây dựng thương hiệu B2B chủ động thiên về những yếu tố chủ quan từ trong ra ngoài (inside-out approaches) và vẫn phải dựa trên sự thấu hiểu của thị trường, nhu cầu của khách hàng là các doanh nghiệp (DN). Tuy nhiên, nguồn ngân sách sẽ được ưu tiên cho nghiên cứu, phát triển (R&D) và nhân lực.
Trong thế giới tiếp thị, chiến lược khác biệt hóa thương hiệu B2C được tiến hành bằng những lời chào thương hiệu giàu cảm xúc như: “Một cảm giác rất Yomost”, “Sữa của những thiên tài”...
Thận trọng hơn, xây dựng thương hiệu B2B xuất phát từ những chiến lược khác biệt hóa từ những “Giá trị thuộc tính độc đáo” (USP: Unique Selling Proposition), vốn là những lợi thế cạnh tranh của DN, trước khi hướng tới xây dựng giá trị thương hiệu thuần về cảm tính.
Vai trò thương hiệu cá nhân (nhân hiệu) của lãnh đạo trong loại hình B2B rất quan trọng, nó ảnh hưởng một cách sâu sắc và toàn diện đến văn hóa thương hiệu, động lực tăng trưởng và là linh hồn của toàn bộ công ty. Những CEO như Trương Gia Bình, Đặng Thành Tâm... đều là những câu chuyện thương hiệu thú vị. Họ luôn là nguồn khích lệ to lớn cho DN, thậm chí với cộng đồng DN.
DN B2B thường cung cấp những gói sản phẩm và dịch vụ có giá trị cao hơn rất nhiều, thậm chí gấp hàng trăm, hàng ngàn lần so với những sản phẩm B2C thông thường. Điều này cho thấy, những phương thức quảng cáo thông thường sẽ kém hiệu quả trong việc thúc đẩy kinh doanh.
Tất cả phương tiện truyền thông giao tiếp đều ít nhiều mang lại hiệu quả cho việc quảng bá thương hiệu B2B, và trong số đó website có hiệu quả nhất. Việc quản trị và xây dựng website sao cho hiệu quả sẽ giúp truyền tải những giá trị thương hiệu và thông tin có lợi một cách tập trung hơn và giảm thiểu sự phân tán của nội dung giao tiếp.
Website không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn là linh hồn của một DN, phải xây dựng nó có tính tương tác để không chỉ giúp cho bản thân các thành phần trong DN hiểu nhau hơn, mà còn là sợi dây gắn kết hiệu quả với thế giới bên ngoài.
Thương hiệu mẹ
Để tránh những rủi ro do sự thiếu nhất quán về hình ảnh và thông điệp giao tiếp mô hình quản trị thương hiệu B2B thì nên đi theo mô hình thương hiệu mẹ (Master branded). Một DN B2B ở quy mô vừa và lớn đã bắt đầu có sự đa dạng về loại hình kinh doanh, ít thì 5 - 6 công ty thành viên, nhiều thì lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm, nếu không thì cũng có nhiều sản phẩm và dịch vụ phát triển từ năng lực lõi.
Từ đây chúng ta có thể thấy, việc quản trị những thông điệp nhất quán có tính tích cực cho thương hiệu sẽ nan giải thế nào, nó sẽ trở thành một cái “chợ thông tin” khi mà những giám đốc tiếp thị của những công ty thành viên, hoặc các giám đốc nhãn hiệu thường chỉ quan tâm đến những thông tin có tính lợi ích cục bộ, ngắn hạn và có tính chiến thuật nhiều hơn cho lĩnh vực hoạt động của họ.
Đối với giới học thuật và chuyên gia trên thế giới hiện vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm trái chiều về tính hiệu quả của việc xây dựng thương hiệu B2B. Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy nhiều thành công của việc đầu tư vào xây dựng thương hiệu B2B, trong đó Intel là trường hợp điển hình.
Về bản chất thì Intel không bán sản phẩm cho người tiêu dùng, nhưng chính quan điểm khác biệt của Intel về xây dựng thương hiệu đã đưa thương hiệu này tới chỗ xây dựng được quyền lực từ người sử dụng tác động mạnh mẽ tới người mua để bán.
Những chiến dịch quảng bá như “Look for intel inside” thực sự hiệu quả khi xây dựng được nhận thức mong muốn của người sử dụng về thương hiệu và từ đó khích lệ họ tìm kiếm những sản phẩm có “Intel inside”.
Tất nhiên, hiệu quả của truyền thông sẽ chẳng thúc đẩy được tăng trưởng kinh doanh nếu như Intel không chi những khoản ngân sách khổng lồ lên tới 60% lãi gộp hằng năm cho việc nghiên cứu cho ra những sản phẩm mới có những “Giá trị thuộc tính độc đáo” hơn hẳn những đối thủ cạnh tranh.
Xây dựng thương hiệu B2B nên bắt đầu từ bên trong, khởi đầu với người lãnh đạo cao nhất của DN, nhưng quyết định sự bền vững lại nằm ở những nhân sự có ít quyền lực nhất ở trong công ty. Khái niệm “Collaborative model” (tạm dịch là mô hình cộng tác) trong xây dựng thương hiệu đã được xác định từ lâu, nhưng trên thực tế rất ít DN áp dụng triệt để.
Hollywood (Film Production), ngành kiến trúc - xây dựng là ví dụ điển hình về việc áp dụng mô hình này. Để sản xuất được bộ phim thành công cần sự phối hợp và cộng tác chặt chẽ của nhiều thành viên và các đối tác liên quan, tạo thành những mắt xích có tầm quan trọng như nhau không thể tách rời, từ nhà biên kịch, đạo diễn đến diễn viên, nhà tiếp thị... đều phải có trách nhiệm với chất lượng sản phẩm như nhau.
Việc thành hay bại của thương hiệu có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng dù với lý do gì đi chăng nữa thì thương hiệu B2B luôn bị “để ý” và mặc nhiên chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với những thương hiệu B2C. Với B2C, nếu một sản phẩm không thành công, chúng ta có thể thay đổi sản phẩm khác.
Những B2B thì không thể vì thương hiệu B2B liên quan chặt chẽ tới sinh mệnh của cả công ty. Nói ở khía cạnh chuyên môn thì với B2B, chiến lược thương hiệu sẽ dẫn dắt chiến lược kinh doanh là hoàn toàn có lý. 

Chữ P thứ năm ở góc nhìn phần nhân sự

Dù được xếp cuối nhưng đó lại là nhân tố quyết định sự thành bại của các chiến lược hoạt động, từ Product (sản phẩm), Price (giá cả), Promotion (xúc tiến, khuyến mãi), Place (địa điểm), Packaging (đóng gói, bao bì) đến Positioning (định vị).


Mô hình 4P trong marketing được mở rộng thành 7P, trong đó chữ P thứ năm có ý nghĩa là bao bì, đóng gói (package).
Những ấn tượng về hình thức bên ngoài của sản phẩm có ảnh hưởng quan trọng đối với phản ứng của người mua. Người ta có khuynh hướng tin cậy những sản phẩm có mẫu mã đẹp hơn những sản phẩm được đựng trong bao bì kém phẩm chất. Trong quản trị nhân sự, nhà quản trị cũng là khách hàng của người lao động và là đối tượng của ảnh hưởng marketing thương hiệu con người.
Đôi lúc, đấy là sự marketing vô thức, cụ thể là có khi một người nào đó lỡ gây ra một sai sót nhỏ nhưng bị người khác có ấn tượng và “gán nhãn” dựa trên những ấn tượng đó. 
Ví dụ, một nhân viên mới nếu ăn mặc thiếu tề chỉnh trong ngày đầu tiên đi làm thì rất dễ bị đánh giá là người xuềnh xoàng. Rất có thể ngay từ ấn tượng đầu tiên không đẹp mà các cộng sự sẽ tỏ ra thiếu tôn trọng và không đánh giá cao năng lực chuyên môn của người ấy và sự ngộ nhận đó có ảnh hưởng đến công việc lâu dài của “lính mới”. 
Tại không ít doanh nghiệp đã xảy ra vô số trường hợp mà chỉ thông qua đôi ba sự kiện nhỏ nhưng có ấn tượng, các nhà quản trị đánh giá  thiên lệch một nhân viên và đánh giá ấy có khi theo suốt quá trình hợp tác giữa hai phía, tác động mạnh đến cách cư xử và quyết định của nhà quản trị đối với nhân viên đó. 
Trong truyện Tam quốc diễn nghĩa, mãnh tướng Lữ Bố chỉ vì bị “gán nhãn” bất trung (giết hai nghĩa phụ Đinh Nguyên và Đổng Trác) mà phải bước vào cửa tử. Tào Tháo định tha chết cho Lữ Bố vì đó là một tướng uy dũng kiệt xuất, nhưng cuối cùng đã treo cổ Lữ Bố chỉ vì câu “chọc gậy bánh xe” của Lưu Bị là “Ngài quên Đinh Nguyên và Đổng Trác rồi ư?”.
Chính Tào Tháo từng hành thích Đổng Trác nhưng lại sợ gặp phải kết cục như Đổng Trác. Người người đều biết Đổng Trác đáng chết, nhưng mấy ai đủ tự tin rằng mình không đáng chết như Đổng Trác trong mắt một ai khác? Trong xã hội học, lý thuyết gán nhãn hiệu (tiếng Anh: labeling theory) giải thích về chuyện một hành vi ở người này bị xem là không tốt (lệch lạc), trong khi hành vi tương tự ở người khác thì lại không có vấn đề gì.
Qua đó, lý thuyết này nhấn mạnh đến tính tương đối trong việc đánh giá hành vi của con người. 
Cũng một hành vi, người ta có thể hiểu khác nhau trong các tình huống khác nhau, chẳng hạn một vị lãnh đạo say rượu trong một bữa tiệc cùng đồng nghiệp có thể được xem là hòa đồng hết mình với nhân viên, nhưng cũng có thể bị chê là rượu chè bê tha, thiếu khả năng kiểm soát hành động.
 Trong quản trị nhân sự, dùng “đúng người đúng việc” là một yêu cầu quan trọng. Tuy nhiên, đó lại là một điều không dễ dàng đối với cả những nhà quản trị sáng suốt nhất. 
Trong Tam quốc diễn nghĩa, khi danh tướng Trương Phi vì say rượu mà để mất Từ Châu vào tay Lữ Bố thì nhiều người đọc lập tức đổ hết lỗi cho Trương Phi, nhưng nếu xét cho kỹ thì đó chính là một thất bại trong việc dùng người của Lưu Bị. 
Là anh em kết nghĩa, lẽ ra Lưu Bị phải hiểu rõ năng lực và phẩm chất của người em kết nghĩa và nói theo cách của giới doanh nhân hiện đại thì vị chủ tịch hội đồng quản trị ấy đã chủ quan giao cho Trương Phi chức giám đốc điều hành (CEO), toàn quyền cai quản và quyết định “Công ty Từ Châu” trong thời gian chủ tịch đi công tác. 
Do quyền lực được giao quá lớn so với kinh nghiệm quản lý, tân giám đốc Trương Phi đã phạm sai lầm, khiến công ty làm ăn thất bát và sau đó bị thâu tóm. Đó là một hệ quả tất yếu.
Nguyên nhân cơ bản là Lưu Bị đã “gán nhãn” cho Trương Phi là người được tín nhiệm, phù hợp nhất cho vị trí giám đốc điều hành Từ Châu. Vì thế, chữ P cuối cùng của mô hình 7P trong marketing là con người (People).
Dù được xếp cuối nhưng đó lại là nhân tố quyết định sự thành bại của các chiến lược hoạt động, từ Product (sản phẩm), Price (giá cả), Promotion (xúc tiến, khuyến mãi), Place (địa điểm), Packaging (đóng gói, bao bì) đến Positioning (định vị).
Nếu chỉ nhìn nhãn hiệu (Packaging) mà bỏ quên yếu tố con người (People) vốn phức tạp, đa  diện thì nhà quản lý khó có được cái nhìn khách quan để ra những quyết định đúng đắn.

Tối ưu hóa cho đại sứ thương hiệu

5. Đối thoại trực tiếp. Đừng khinh suất đến mức ký hợp đồng đại sứ thương hiệu mà chưa bao giờ nói chuyện với người nổi tiếng. Phải tìm hiểu chi tiết về dự định và suy nghĩ của người sắp gắn liền với tên tuổi sản phẩm và hình ảnh doanh nghiệp.


Đại sứ thương hiệu đem lại lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp, mà đặc biệt là các đơn vị mới thành lập.
Chuyên gia tiếp thị Patrick Bishop nhấn mạnh: “Công ty mới xuất hiện trên thị trường, nên mọi người chẳng biết bạn là ai, bán gì, chất lượng sản phẩm ra sao, dịch vụ chăm sóc khách hàng có bảo đảm? Nhưng nếu có gương mặt nổi tiếng giới thiệu thì người tiêu dùng sẽ có thiện cảm rõ rệt”. 

Đại sứ thương hiệu không đóng vai trò quyết định thành bại, nhưng rất quan trọng để kích thích doanh nghiệp phát triển. Tiến Sĩ Melissa St. James thuộc đại học George Washington đã nghiên cứu về đại sứ thương hiệu suốt 5 năm. Chị cho biết: “Hình ảnh người nổi tiếng giúp tăng sự nhận biết của khách hàng đến quảng cáo và giúp quảng cáo dễ đi vào trí nhớ của mọi người hơn”.
Có nhiều cách để người nổi tiếng đi kèm với thương hiệu doanh nghiệp.
Làm thế nào tìm đúng đại sứ thương hiệu phù hợp với doanh nghiệp? Làm sao đủ tiền trả cho họ?
Sau đây là vài bí quyết cho doanh nghiệp:

1. Xác định loại hình đại sứ thương hiệu.
Có nhiều cách để người nổi tiếng đi kèm với thương hiệu doanh nghiệp. Ví dụ như người nổi tiếng dùng thử sản phẩm, dịch vụ rồi phát biểu cảm nhận trong quảng cáo. Có thể trả tiền hoặc không. Hoặc có khi người nổi tiếng đóng phim quảng cáo và nói chính xác những gì doanh nghiệp muốn giới thiệu. Có trường hợp, người nổi tiếng được tặng sản phẩm để dùng trước công chúng, nhưng không hô hào quảng cáo, không nhận tiền công. Hoặc, doanh nghiệp ký hợp đồng sử dụng hình ảnh và tên người nổi tiếng lên sản phẩm…
2. Tìm đại sứ phù hợp. Phải hiểu và chọn người nổi tiếng khớp với hình ảnh sản phẩm bạn muốn tạo dựng. Ví dụ, công ty Flooz chọn Whoopi làm đại sứ thương hiệu vì: “Chị ấy hài hước, thông minh, tư cách tốt, có thể trò chuyện với cả người già lẫn trẻ, da màu và da trắng, nam lẫn nữ…”. Tìm người nổi tiếng phù hợp làm đại sứ thương hiệu cũng giống như dày công tìm thông tin hữu ích trên mạng internet. Tốn thời gian và công sức, nhưng kỹ lưỡng hành sự thì kết quả sẽ như ý.
3. Đề nghị giao kết. Họ không thể đồng ý nếu bạn chưa hỏi. Vậy, hãy gọi điện thoại hoặc viết thư đề nghị. Bishop khuyên doanh nhân: “Khi đối thoại với người nổi tiếng và đề nghị họ làm đại sứ thương hiệu, hãy chia sẻ tầm nhìn của công ty, hào hứng và nhiệt tình trình bày lợi ích họ nhận được khi cùng tham gia. Phải thể hiện rõ đây là hợp tác đôi bên cùng có lợi”.

4. Bầu trời không chỉ có một ngôi sao. Dĩ nhiên, những cái tên nổi bật tạo được sức mạnh to lớn. Nhưng, người bận rộn với nhiều hợp đồng thì đòi hỏi cũng cao. Nếu công ty không đủ tiền, bạn hãy nghĩ cách chiêu dụ như tặng cổ phần doanh nghiệp. Nếu vẫn không được, bỏ qua. Người ít nổi tiếng hơn, nhưng có kiến thức về sản phẩm sẽ phù hợp hơn. Thông thường, doanh nghiệp trẻ nên gửi người nổi tiếng xài thử sản phẩm và sử dụng lời khen chân thành của họ để làm quảng cáo.

5. Đối thoại trực tiếp. Đừng khinh suất đến mức ký hợp đồng đại sứ thương hiệu mà chưa bao giờ nói chuyện với người nổi tiếng. Phải tìm hiểu chi tiết về dự định và suy nghĩ của người sắp gắn liền với tên tuổi sản phẩm và hình ảnh doanh nghiệp.
6. Tiếp thị hoàn chỉnh. Các ngôi sao tạo tiếng vang. Đừng dừng lại ở đó. Đã chọn được đại sứ thương hiệu vừa ý thì hãy xây dựng chiến lược quảng bá thương hiệu hoàn hảo.